Inrasara: CHAM: 3 GIAI ĐOẠN – 3 THÔNG ĐIỆP

[Ariya Glơng Anak – “Làng Chăm Ơn Bác” – Tagalau]
Hãy yêu, hãy yêu như ta chưa từng
những đứa con đi hoang bỏ xa làng mạc
mang bụi đất quê hương về miền xứ khác
và hãy yêu hơn con người chân chất
sống một đời ôm mang đất – phù du

(Inrasara, trường ca Quê Hương, 1984)

Chắc chắn đây là phân tích chính trị-xã hội đầu tiên của tôi, một phân tích về điểm trọng yếu trong văn hóa lịch sử Cham. Thế nên rất mong bà con, anh chị em và các bạn đọc kĩ trước khi phản hồi, nếu có. Và nhất là, cần nhìn toàn cảnh xã hội Cham 2 thế kỉ qua, để thông suốt vấn đề.
Riêng độc giả ngoài Cham, cần “đứng vào lòng xã hội Cham”, như là một sinh linh Cham đúng nghĩa, để nhận định.

[1]. Thông điệp Glơng Anak: BẢO TOÀN…
Cuối thế kỉ XVIII-đầu XIX, Cham rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, khủng hoảng cuối cùng của lịch sử dân tộc. Sang thời Minh Mạng, nửa Cham theo chính quyền, nửa theo khởi nghĩa Lê Văn Khôi: 2 lực lương cùng máu mủ đối chọi nhau; rồi khi họ Lê bại, Minh Mạng ra tay càn quét. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Inrasara: PO RIYAK – THẦN SÓNG: LỊCH SỬ, TRUYỀN THUYẾT VÀ TỤC THỜ CÚNG

Tạp chí Nghiên cứu & Phát triển số 2-2016 (tr. 81-94)

Hằng năm, sau lễ Rija Nưgar (Lễ Xứ Sở) diễn ra vào đầu năm lịch Chăm (tháng 4 Dương lịch), bà con Chăm ở các vùng thuộc hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đều làm lễ thờ cúng Po Riyak, tức Thần Sóng [Biển]. Lễ thờ cúng Po Riyak là một mảnh văn hóa biển của người Chăm, mảnh rất quan trọng. Bởi non hai thế kỉ rưỡi, dấu ấn của nó chẳng những vẫn còn in đậm trong tâm thức cộng đồng, trong sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng Chăm, mà còn ảnh hưởng đến các cư dân trong khu vực, như qua tục thờ Cá Ông, hay thờ Ông Nam Hải của người Việt miền Trung chẳng hạn.
Po Riyak là ai? Người có lịch sử hay chỉ là nhân vật huyền thoại? Hiện nay cộng đồng Chăm thờ phụng Po Riyak như thế nào? Người Việt nhận ảnh hưởng gì từ nhân vật huyền thoại hóa này?

1. Từ lịch sử đến truyền thuyết
Truyền thuyết kể rằng, Po Riyak tên thật là Jataul Wa (hay Aih Wa), làng Ia Dak, nay thuộc khu vực Ma Lâm, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Ngài sinh ngày mồng 5, nhằm thứ Ba, tháng Tư lịch Chăm năm con Rồng.(1)
Niên lịch xác định ngài xuất hiện sau triều đại Po Rome (1627-1651), lúc đó Phú Yên thuộc Champa đã mất vào tay Đại Việt. Điều này tương ứng với thực trạng xã hội được kể lại rất khái quát trong truyền thuyết (dalikal) và tụng ca (damnưy) về ngài. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

Inrasara: VỀ ĐÂU, PHÊ BÌNH HẬU HIỆN ĐẠI VIỆT NAM?

Tham luận “Một số vấn đề lý luận và phê bình văn học thời kì Đổi mới”,
Đại học Hùng Vương – Phú Thọ, 14-4-2016

1. “Hoàn cảnh” hậu hiện đại Việt Nam
“Hoàn cảnh” hậu hiện đại the postmodern condition Việt Nam khác với thế giới, khác từ truyền thống đến hiện tại, nên nó sản sinh ra hậu hiện đại Việt Nam khá đặc thù.
Truyền thống, tính “hậu hiện đại” postmodernity có sẵn trong đời sống Việt Nam. Thượng đế đã chết của Nietzsche không khác mấy Phùng Phật sát Phật của Thiền sư Vân Môn; hay “Phật là Phật, anh là anh. Anh đâu cần làm Phật, Phật đâu cần làm anh” của Tuệ Trung Thượng Sỹ. Song hành với tính nghi ngờ ngôn ngữ của các bậc trí huệ (Phật giáo), trong dân gian là tính không tin truyền thông đại chúng (“Nhà báo nói láo ăn tiền”), tính không tin trung tâm quyền lực (“Phép vua thua lệ làng,” “Hơi đâu lo mấy chuyện cung đình”), tính giễu nhại những bài ca phổ biến, khôi hài, xỏ lá mấy chuyện xem như quan trọng, tính hầm bà lần.
Chủ nghĩa hậu hiện đại postmodernism vào Việt Nam như là một cơ duyên và cơ hội.
Hiện tại, xã hội Việt Nam hiện tại tồn tại cùng lúc đặc tính các dấu vết của nhiều thời kì lịch sử khác nhau của nhân loại: hậu hái lượm, tiền nông nghiệp, phong kiến, bán công nghiệp xã hội chủ nghĩa, hậu thực dân, hậu sụp đổ phe xã hội chủ nghĩa, hậu chiến cùng các hệ lụy của nó [như Bắc – Nam, vượt biên và Việt kiều, tàn dư chế độ tiền tư bản và hậu cộng sản], hiện đại và hậu hiện đại… tất cả đang tác động đến các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

Nguyễn Thị Quỳnh Hương: LIÊN VĂN BẢN TRONG TIỂU THUYẾT CHÂN DUNG CÁT CỦA INRASARA

Nguyễn Thị Quỳnh Hương (Đại học Khoa học Huế)
In trong Văn học hậu hiện đại, diễn giải và tiếp nhận, NXB Văn học, 2013, tr. 378-400.
7-Chandung Cat
Liên văn bản là thuật ngữ được nhà lý luận của chủ nghĩa hậu hiện đại J.Kristéva đưa ra vào năm 1967, trong tiểu luận Bakhtin, từ, đối thoại và tiểu thuyết. “Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn cũ” [1, 35] (R.Barthes). Và quá trình đọc của tác giả, văn bản và độc giả là “một trường thống nhất, vô tận cho trò chơi của sự viết” [1, 34]. Trong thế giới của văn bản, các văn bản riêng lẻ có sự tương tác, dẫn dựa lẫn nhau bởi lẽ tất cả đều là bộ phận của “văn bản chung” và đồng thời diễn ra sự triệt tiêu giá trị văn bản của văn bản riêng lẻ.
Vận dụng liên văn bản là một trong những thủ pháp cơ bản của văn chương hậu hiện đại. Liên văn bản góp phần tạo nên sự đứt gãy trong mạch tự sự, sự đảo lộn trật tự thời gian, sự nhoè mờ về ngôi thứ… và khơi sâu không gian văn hoá, nới rộng chiều không – thời gian… của tác phẩm.
Ở Việt Nam, Inrasara là một trong những người chủ động tiếp nhận và ứng dụng lý thuyết hậu hiện đại để cách tân văn chương. Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ tân hình thức của Inrasara (2006) là tập thơ được viết theo Tân hình thức đầu tiên được xuất bản ở nước ta. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Mai Văn Phấn: NHÀ THƠ INRASARA, NGƯỜI KHAI HOANG ÁNH SÁNG

Phan_Daddy
[bản chỉnh sửa]
“Nhưng nhà văn phải nhìn thấy mọi biến động của dân tộc mình”(1)
INRASARA

1. Lời dẫn
Inrasara, trước khi xuất hiện với danh xưng nhà thơ, ông là nhà nghiên cứu và sưu tầm văn hóa Chăm uy tín. Tên tuổi Inrasara không chỉ gắn với quá trình đổi mới, cách tân thơ Việt sau 1975, mà ông còn được ghi danh là người có công lớn trong việc khôi phục và bảo tồn những giá trị vật thể và phi vật thể của văn hóa Champa.
Dân tộc Chăm có nền văn hóa rực rỡ và phong phú, từng ghi dấu thời hoàng kim trong lịch sử. Văn hóa Champa ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, là nơi gặp gỡ với các nền văn minh lớn như Trung Hoa, Ấn Độ, Java… Đây là một trong ba cội nguồn văn hóa lớn nhất trên lãnh thổ nước ta từ xa xưa. Văn minh Champa có nguồn gốc từ văn hóa Sa Huỳnh. Văn minh Đại Việt bắt nguồn từ văn hóa Đông Sơn. Và văn minh Phù Nam, tập trung là văn hóa Óc Eo có nguồn gốc từ văn hóa Đồng Nai. Qua thời gian, văn hóa Champa tồn tại như vỉa quặng quý hiếm ít được khai thác, ngày càng bị chìm khuất. Có nhiều giá trị văn hóa độc đáo, giàu bản sắc dân tộc còn có nguy cơ bị hư hại, mai một.
Nhà thơ Inrasara là người dấn thân quyết liệt để phá hoang, khai khẩn chính miền đất ông đang sinh sống nhằm khôi phục những giá trị quý báu của dân tộc Chăm. Ông là người đưa văn hóa Chăm hòa nhập với đời sống hiện đại, làm phong phú thêm nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Inrasara: HÀNH HƯƠNG PO RIYAK

Bút Ký [Vấn đề Po Riyak. bài 4]
NguyenHung-29-2-2016.03 [Photo Nguyễn Hùng]
Thuở xà lỏn, mỗi đầu năm Cham lịch, tôi hay theo mẹ đi Nau Yang ở Bingun Ia Ralong Giếng Nước Ngàn cách palei cũ về hướng biển nửa cây số. Trẻ con biết thế nào là đầu năm, cứ đến mùa đỉnh nắng, là tôi mình trần chạy theo mẹ. Mẹ la: nắng thế này mà mi cứ đòi. Nhưng thế nào rồi mẹ cũng quăng cho tôi cái áo.
Mẹ bước nhanh, tôi càng nhanh hơn. Để kịp xem múa đạp lửa, sau đó được trái chuối chấm với bỏng nếp, thêm miếng cùi dừa nữa.
Vậy thôi. Chiều, tôi theo đám bạn đi lễ Rija Nưgar ở đầu làng.

Rija Nưgar là lễ đầu năm Cham lịch, tại mọi làng Cham, không kể Cham Awal hay Cham Ahier. Sau đó mới tới bao nhiêu cuộc lễ ăn theo khác. Rồi không hiểu tại sao riêng mỗi palei Chakleng tôi Nau Yang Po Riyak trước lễ trọng đại này.
Văn học Cham khái luận do nhà Tri thức in lần ba (2015, tr. 81-82): Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

CHẾ DIỄM TRÂM: INRASARA – NHÀ NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH THƠ THỜI KỲ ĐỔI MỚI

VnchuongViet, 27-3-2016
Chúng ta hình dung diện mạo văn học thời kỳ đổi mới của Việt Nam như thế nào nếu thiếu bộ phận văn thơ của các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Chăm? Và sẽ vô lý khi nói đến văn học Chăm từ thập niên 80 – 90 của thế kỷ XX cho đến nay mà thiếu vắng nhà thơ – nhà nghiên cứu, phê bình Inrasara.
Nhắc đến Inrasara, ta nghĩ ngay là một nhà Chăm học vì ông là người Chăm và nghiên cứu sâu về ngôn ngữ, văn hóa, văn học Champa. Ông được nhiều người biết đến với tư cách là một nhà thơ song ngữ, viết bằng cả chữ quốc ngữ và Chăm ngữ. Có thể nói, sáng tác thơ là lĩnh vực đưa tên tuổi ông đi xa nhất: hai lần đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với hai tập thơ Tháp nắng và Lễ Tẩy trần tháng Tư, và Giải thưởng Đông Nam Á với tập thơ sau.
Nhưng ở đây, chúng ta nhắc đến ông với tư cách là nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhất là về thơ ca Việt hiện đại, đặc biệt là thơ thời kỳ đổi mới. Nghiên cứu, phê bình thơ ca là lĩnh vực định hình phong cách Inrasara: mạnh mẽ, trung thực, có nhiều phản biện thẳng thắn, nhiều khi quyết liệt đúng với bản tính người Chăm, đặc biệt là rất nghiêm túc, tận tụy và luôn có những tìm tòi, phát hiện mới mẻ. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

Inrasara: HÀNH TRÌNH PHÊ BÌNH LẬP BIÊN BẢN

(diễn từ nhận Giải thưởng Vanviet, 3-3-2016)
1. Đất nước mở cửa, được cởi trói, văn nghệ sĩ hối hả đi ra thế giới, nhìn ra thế giới bên ngoài, ở đó họ bị choáng ngợp trước mênh mông tác giả với trào lưu văn chương lạ lẫm, độc đáo.
Họ háo hức tiếp nhận và thử nghiệm, tìm tòi và khai phá, phiêu lưu và sáng tạo. Thế rồi, chỉ trong thời đoạn ngắn, họ để lại trên văn đàn tiếng Việt bao ngổn ngang dấu vết, nỗi niềm.

Họ biết…
văn chương tiếng Việt đương đại không chỉ tiếp nhận văn học miền Bắc xã hội chủ nghĩa, mà còn nhận ảnh hưởng từ văn học miền Nam;
không chỉ của riêng người Việt, mà còn là của cây bút người dân tộc thiểu số khác;
không chỉ của tác giả cư trú tại trung tâm văn hóa lớn, mà cả người viết đang sống nơi vùng sâu vùng xa;
không chỉ của nhà văn Việt Nam, mà cả nhà văn trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

HỒ SƠ BIÊN BẢN SO SÁNH 19. Lê Vĩnh Tài & những trò diễn của thơ

Có nhà thơ làm thơ mà không cần suy nghĩ về thơ, không có bất kì quan niệm nào dù mơ hồ nhất về thơ, không cần biết thơ là gì, tại sao làm thơ, thơ viết cho ai, vân vân. Họ làm thơ, thế thôi.
Có nhà thơ nói, bàn về thơ và nghề thơ. Bằng nhiều hình thức khác nhau. Khi có cơ hội, điều kiện. Qua các bài, tập sách lí luận – phê bình hoặc qua phát biểu cảm tưởng hay trả lời phỏng vấn, qua phát động một trào lưu, một trường phái hay chỉ rải rác qua thư từ, bằng công trình hàn lâm hay dẫu ngẫu hứng bình một bài thơ hay, bằng văn xuôi hay chỉ gửi ý tưởng mình trên đôi cánh thi ca.
Xưa thế, nay cũng vậy. Đông hay Tây. Các nhà thơ này đều từng một/ nhiều lần nỗ lực nói lên quan điểm về nghề, phương pháp sáng tác cũng như hệ mĩ học của mình. Nhất là nhà thơ Tây phương, các nhà thơ chuyên nghiệp. Từ Thomas Stearns Eliot đến Octavio Paz, từ Guillaume Apollinaire đến Jorge Louis L. Borges, từ Yves Bonnefoy đến Dana Gioia… Đôi khi thành tựu về “nói” của họ còn xuất sắc hơn, đồ sộ hơn sáng tác của họ nữa. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 2.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Inrasara: HÀNH ĐỘNG TRONG CHÂN TRỜI KHẢ THỂ

1. Tôi biết gì?
Thuở Trung học, tôi rất trung bình. Đất nước thống nhất, như chuột sa chĩnh gạo, tôi cầm được suất “ưu tiên” cho ngồi giảng đường. Tôi hết cử nhân, rồi qua Liên Xô lấy phó tiến sĩ hữu nghị. Tôi được cho vào lò đào tạo một chiều, như thể loài ngựa bị che hai bên mắt để cứ thẳng đường mà đi. Tôi chẳng thấy cái gì khác ngoài tri thức quý ngài giáo sư [cũng bị che mắt] từ mấy giáo trình bị tẩy sạch đến không còn đất cho tự do suy tư, phản biện. Vậy thì, hỏi tôi có đáng ưỡn ngực không?
Vì hoàn cảnh, tôi buộc thôi đại học dở chừng, trở về quê nhà. Nhưng bởi tình yêu tri thức, tôi mày mò đọc thêm. Tôi như ếch đáy giếng, được con trùng nào rớt xuống là tôi đớp không chút ngại ngần. Gặp sách nào cũng ngấu nghiến, bắt được thầy nào cũng học. Vài ngàn cuốn sách qua tay tôi, nhưng hoàn toàn không hệ thống. Kiến thức tôi bập bõm trúng trật, thì rõ rồi. “Chúng ta vỡ lòng mốc bụi dĩ vãng”, một nhà văn nói thế. Mốc bụi như vậy, ở đó mà tôi dám vênh mặt với người hàng xóm!
May mắn hơn, tôi sinh ra trong gia đình khá giả, thời cuộc thuận buồm xuôi gió được đào tạo trường Tây, qua đại học chính quy Mỹ, giật lấy bằng tiến sĩ chính hiệu. Tiếng tây tiếng u đủ đầy. Nhưng tri thức có nghề kia có là cái biết đích thực không? Hay hỏi cách sâu thẳm hơn: tôi biết gì, ngoài chuyên môn của tôi? Mà ngay cả cái chuyên môn kia cũng ra từ một lò, theo một trường phái, qua kiến thức giáo sư hướng dẫn. Nghĩa là nó vẫn bị quy định. Nói một cách hình ảnh thì ngay cả thứ ếch ngồi đáy giếng kia, có thấy một góc trời nhỏ hẹp nào đó, thì góc trời kia cũng đầy mốc bụi, xộc xệch qua mắt nhìn méo xẹo. Cái biết đó mà vỗ ngực với đời thì ngực kia lép xẹp là cái chắc! Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +2 (from 2 votes)