Tiến sĩ ĐH Paris VII – Pháp Nguyễn Văn Huy đã luận về Xã hội Cham như thế!

[trong loạt bài: SINH MỆNH CHAM, HÔM NAY & NGÀY MAI 06. Hóa giải 2. DỌN ĐƯỜNG]

Việc Champaka xâu xé cộng đồng Cham hơn mươi năm qua, là chuyện nhỏ, thậm chí rất nhỏ. Ta trầm trọng hóa nó, nên nó mới ra nghiêm trọng. Và thành vấn đề. Nói như đại sư Krishnamurti: Khi ta không xem điều gì đó là một vấn đề, vấn đề đó tự tháo dỡ.
[3 lưu ý.
– Nhà văn là kẻ lưu giữ kí ức dân tộc. Tôi dung chứa [và đã lập hồ sơ] mênh mông câu chuyện Cham. Qua đó, ở thế buộc, tôi làm hơn 20 “giải minh” về các sai lạc về Cham. Tôi không công bố, bởi “chiến sĩ” không thuộc “đẳng cấp” của tôi. Tôi viết, kí gửi vài nơi tôi tin tưởng, để lưu chúng cho thế hệ mai sau.
– Bài này được viết vào tháng 5-2009 nhưng chưa phổ biến, theo mạch “đi tìm”, tôi đăng ở đây như một cách hóa giải vấn đề. Chuyện tôi quan tâm không phải là CPK, không phải những gì các vị nói, mà là: sinh phận Cham bị cuốn lôi vào vòng xoáy kia.
Và để tránh mấy cày nhày không đáng, tôi chỉ nêu 1 điển hình NGOẠI về 1 vụ duy nhất. Chỉ 1 điển hình thôi cũng đủ, sau đó ta làm cuộc LÊN ĐƯỜNG, nhọc nhằn mà vui vẻ
– CPK đừng cãi, nếu cần – nhắn Nguyễn Văn Huy tranh luận trực tiếp với tôi]. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

SINH MỆNH CHAM, HÔM NAY & NGÀY MAI 01. Ly tán

Thi sĩ là kẻ dự cảm về sinh mệnh dân tộc. Tầm vóc thi sĩ càng lớn, thì dự cảm càng sâu, xa, và tính bao quát càng rộng. Thế hệ Cham mất lửa và ly tán: Tôi đã nhìn thấy nó thuở trước tuổi 30 (1985).
Cham phân hóa, tranh cãi không lối thoát như mươi năm qua: Tôi dự cảm từ năm tôi 34 tuổi, qua tiểu thuyết Chân Dung Cát (viết năm 1991).
Dự phóng con đường Cham tìm lại mình: Tôi có kịch bản phim Bản Trường Ca Bỏ Hoang (2006), ở đó tôi cho một nhân vật đi tìm một nửa bản trường ca bỏ hoang, hứa hẹn khi tìm thấy một nửa này, Cham sẽ tái hòa hợp.
Xin đăng lại, với vài phân tích cần thiết.

01. LY TÁN
Bài thơ sáng tác vào mùa hè năm 1985, chưa đăng ở đâu hay in trong tập thơ nào. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Đỗ Tấn Thảo: THƠ

TÌNH YÊU CỦA EM ĐÂU

Nải chuối chín cây của em đâu
Màu nắng sém
Màu ướt mưa
Màu con đường nhặt thưa
Mỗi sớm mai rộn ràng về xuôi rong ruổi

Bầu mắm cái của em đâu
Nức thơm bữa lạnh mùa đông gạo mới
Thơm sọc cá cơm lấp lánh
Thơm ầu ơ rao đổi mít đầu nguồn Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

TÔI & VĂN NGHỆ SĨ 9-10

09. Di Li, Thủy Anna &… tôi

Festival Thơ Châu Á-Thái Bình Dương năm 2010, tôi có kỉ niệm đẹp với hai người đẹp Hà Nội: Di Li và Thủy Anna.
Sau ngày khai mạc ở thủ đô, ngày thứ hai, cả đoàn đi xe xuống Tuần Châu làm cái đêm thơ [hứa hẹn] tầm khu vực.
[Xin mở ngoặc nói xấu phe ta xíu: Đoàn đi luôn có xe an ninh hụ còi, đằng trước đằng sau. Đụng đèn xanh nhân dân cũng phải nhường đường. Gặp khúc ngã tư đợi hơi lâu, nhân dân ngó lên xe thấy vài cái đầu thò ra, chợt mở to mắt, quay lại nói với nhân dân bên dưới: Tưởng gì, đ.m. đám… nhà văn].
Tầm khu vực mà sân khấu thấp lè tè, ngồi hàng ghế thứ 7-8 thôi mà thấy có mỗi cái đầu thi sĩ đang diễn lúc lắc qua lại, thêm MC đực rựa xém tuối thất thập nói dài, thì còn ham cái nỗi gì.
Cơm chiều, chúng tôi hẹn nhau đi chơi, chớ không dự chi cả. Kẹt nỗi, Di Li phải làm dịch giả cho đoàn, muốn thoát cũng không được, đành ở lại chịu trận. Có mỗi tôi với Thủy Anna đi lòng vòng khu du lịch vàng đất Bắc, tán chuyện văn chương trên trời dưới đất. À, có ông bạn thơ già nữa, nhưng được vài vòng thì ông kêu mỏi cẳng.
Tuần Châu đẹp, đi bên cạnh là người đẹp, được thoái mái tán thơ với người đẹp [viết văn] ít hiểu về thơ, thì sướng bằng tiên. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

TÔI & VĂN NGHỆ SĨ 7-8

07. Trần Anh Thái &… tôi

Anh bộ đội đúng nghĩa bộ đội, xong nghĩa vụ trở về làm chữ nghĩa, thì văn chương ấy luôn tràn ý nghĩa. Và hay. Tôi biết vài nhà văn bộ đội như thế: Nguyễn Bình Phương, Bảo Ninh, Trần Anh Thái… Ở phía bên kia: Cao Xuân Huy là một.
Ra trận, họ cầm súng xông vào lửa đạn. Họ bắn thật, chứ không bắn bổng. Xong, họ về, họ dằn vặt về cái bắn của mình. Ngẫm thân phận con người, thân phận chiến tranh. Và viết.
Khác hẳn một anh bạn thơ, dự Trại Sáng tác Vũng Tàu năm 2002, anh kể sau một trận ác chiến giáp lá cà, đại đội anh bắt sống hơn chục lính Cộng hòa, cho xếp hàng, và xử luôn. Xử, do đồng đội mình chết nhiều, đau và căm giận – không sao cả, nhưng cái giọng anh kể sau 25 năm, nó mới khoái đến ác.
Anh làm thơ dở thì phải, – tôi nói.

Trần Anh Thái chắc chắn không thuộc típ bộ đội đó rồi. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

khaly chàm: tháng tư hiện trong đồng tử

tưởng như tiếng đập cánh từ trực giác
thời khắc liên kết cùng vòng đêm mang mùa xuân ra đi
những ngón tay đang cắn nát dự cảm màu nhiệt đới mưu toan xám lạnh
tôi trong gương nghiến răng như loài thú hoang
phà ra hằng số nốt lặng đen hiện thể sự giam cầm ý thức Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Trần Việt Hà: HƠI THỞ CHĂM MAN HOANG MÃNH LIỆT TRONG “ĐỨA CON CỦA ĐẤT” INRASARA

(Trích tuyển tập “THI NHÂN VIỆT NAM 1986-2016”)
FB Tranvietha, 14-4-2017
Không ai có thể hát thay chúng ta
nơi đây và lúc này
cả hôm sau, có lẽ
.
Đó chính là một tuyên ngôn đầy tự tin, mạnh mẽ và ngạo nghễ về tiếng nói của thế hệ mình từ “đứa con của Đất” Inrasara, một nhà thơ người Chăm nổi tiếng của Việt Nam hiện nay. Điều này đặc biệt hấp dẫn đối với tôi, bởi sau tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên (bông hoa lan trong khu vườn nhà họ Chế – dòng họ vua chúa của dân tộc Chăm ở nước Chiêm Thành xưa) hoài vọng những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị thần bí ở với tháp Chăm của thời Điêu tàn với xương, máu, sọ người gợi nhắc hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son… thì chỉ đến Inrasara, hồn cốt văn hóa dân tộc Chăm mới thực sự được cất lên mạnh mẽ, sâu sắc và ngân nga, trọn vẹn nhưng cũng không kém phần đau đáu khắc khoải đến như vậy.
Thơ của ông là chuỗi những khúc quê khi nồng nàn say đắm mang hơi thở man dại khỏe khoắn khi man mác canh cánh đầy trăn trở thổn thức theo nhịp hồn của một dân tộc cố gắng níu giữ lại những giá trị cốt lõi đang dần bị mai một, lạc điệu giữa cuộc sống nhanh, thực dụng và xu thế toàn cầu hóa. Khát vọng tìm về nguồn cội đó được thể hiện khá rõ trong “Đứa con của Đất”, bài thơ tri nhận đời người. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

TÔI & BẠN VĂN NGHỆ 4-5-6

04. Nguyễn Viện & Tôi

Nguyễn Viện thích chơi chữ, nên bị chữ chơi lại, đáng lắm.
Đẻ xong tập thơ để đời, vội kêu là tập duy nhất, sẽ không thêm bài nào nữa – lại làm.
Xong vài tiểu thuyết bất hủ, hứa không viết nữa – lại ra tiếp mấy cuốn.
Hứa chi để mà thất hứa chứ. Thà như Nguyễn Duy, một lần hứa là hạ quyết tâm giữ lời. Muốn chơi lại thì kêu Vietnam Airlines chở cả đống thúng mủng rổ rá đính kèm thơ ra Hà Nội với quê nhà triển lãm cho thiên hạ xem chơi.
Nói đùa vậy chớ, có lẽ do Nguyễn Duy xài hết trơn trọi đạn. Còn anh, sung ống còn đầy ra, sao lại nín! Nín gì thì được, ai dại đi nín chữ. Nguyễn Viện là một trong vài tác giả [văn xuôi] ruột của tôi.
Kể một kỉ niệm hơi dài với anh [liên quan tới tấm ảnh]. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

TÔI & BẠN VĂN NGHỆ 1-2-3

01. Lê Vĩnh Tài & Tôi

Xa palei, xa bạn văn, xa cả văn chương, cũng nhơ nhớ.
Vừa qua đăng loạt ảnh “Giữa lòng bạn bè thân hữu”, tính làm dài dài, nửa chừng ngoảnh lại thấy nó hơi vô duyên. Vô duyên, thì ngưng. Thôi thì thử tỉ tê vài kỉ niệm nho nhỏ với bạn văn nghệ, biết đâu mai hậu nhà nào đó sử dụng làm tư liệu cho… văn học sử, mình cũng được xí phần. Thì kể…

Tôi biết Lê Vĩnh Tài lần đầu qua Hoàng Thiên Nga, khoảng năm 1997 gì đó; rồi cái tên đó trôi tuột đi mất đâu không nhớ nữa. Mãi gặp Niê Thanh Mai, khi ấy lên Ban Mê rủ rê cô nàng viết cho Tagalau, tôi nghe lại nó lần hai. Ở trển, chúng ca nhau phải biết! Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

THỬ TÌM SINH LỘ CHO CHAM AHIÊR-AWAL 80

1. Veda có 4 bộ kinh: Rig-Veda gồm tri thức về các thánh ca, ca tụng thần linh dưới dạng thi ca; Sama-Veda, gồm tri thức về các giai điệu, cầu nguyện thần linh trong lễ hiến tế; Jayur-Veda: tri thức về các nghi lễ, tế lễ, dạy những thể thức hành lễ theo thứ tự các bậc chư thần; và Atharva-Veda: tri thức về các thần chú, gồm công thức thần chú, ma thuật. Mỗi bộ kinh gồm 4 phần:
Mantra: thánh ca, cầu nguyện thần linh dưới dạng thi ca.
Brahmana: Phạn chí hay kinh Bà-la-môn, là các bài kinh cầu nguyện giải thích các nghi thức tế tự chuyên dùng cho các tu sĩ cao cấp.
Aranyaka: Kinh Rừng, dùng cho nhà tu khổ hạnh.
Upanishads: Áo nghĩa thư, kinh bình chú có tính triết học – tôn giáo [upa: gần, ni: cung kính, shad: ngồi = dưới chơn thầy].

2. Muốn biết Cham đào tạo tu sĩ như thế nào, cũng cần biết qua hệ thống chức sắc Bà-la-môn.
Halau janưng Cham Ahiêr hôm nay hành trình từ Đung Akok, Liah [thợ phụ và chính ở nghi thức “Đốn gỗ” trong Đám thiêu] sang Pwah để nhập vào hàng tăng lữ Bà-la-môn là một giai đoạn phấn đấu dài. Đây có thể gọi là thời tu tập “dưới chơn thầy”. Từ Pwah [phụ trách Đám thiêu hai Paxêh] lên Tapah được cho là đạo sĩ đã thoát tục, bậc có thể thực hành mọi nghi lễ tôn giáo.
Tuy nhiên tùy khả năng và lễ tấn phong, Tapah [hay Baic] còn được phân ba cấp: Tapah Katat, Tapah Kađa, và Tapah Kađôi.
Dhya hay Adhya là bậc cao nhất phụ trách Bimông cho một khu vực. Biết thêm: Trong khu vực đó, nếu Dhya chưa qua đời, các cấp Tapah vẫn cứ ở lại cấp của mình, mà không thăng tiến bậc nào nữa.

3. Giai đoạn tu tập, các chức sắc Cham Ahiêr học gì?
Thử lướt qua nội dung 5 bộ kinh:
Agal Baic Balih gồm các kinh tụng trong lễ rửa tội cho tín đồ và tu sĩ phạm tội, tụng ở cả nghi thức rửa tội trong lễ thụ chức.
Agal Prong (Đại kinh lễ) dùng cho lễ tấn phong chức Tapah. Bộ này bao gồm cả Agal Baic Balih, và Kinh Mưta Yang tụng trong lễ Dựng Kut và Nhập Kut.
Agal Pak Pakaup hay Agal Pak Bêl Bôi dùng trong nghi thức Đih swa (nằm thiền) thuộc lễ tấn phong chức Tapah.
Baic Pakap hay Nat Cuh Yang Apui (Tế Thần Lửa) dùng tụng ở đền, tháp.
Baic Pakap Palei kinh tụng tẩy uế palei.
Như vậy, giáo sĩ cao cấp chỉ [mật/ bí] truyền cho nhau Kinh Lễ các loại, còn giáo dục công chúng tín đồ hoàn toàn phó thác cho… nhà thơ. Và hôm nay: cho Nhà nước.
Làm gì?

4. Đối chiếu với nguyên bản Ấn Độ, ở Cham: Thánh ca đã mất dấu, nhà tu khổ hạnh không còn nên Kinh Rừng không ai truyền tụng, còn triết lí chẳng tìm ra đất đứng thì Áo nghĩa thư biến luôn. Vậy, Cham chỉ còn Phạn chí tức Kinh Bà-la-môn, là các bài kinh cầu nguyện giải thích các nghi thức tế tự chuyên dùng cho các tu sĩ cao cấp.
Ngay cả phần này, Cham còn gì? – Thực sự, khuyết nhiều, rất nhiều.
Cả các mảnh còn lại, tu sĩ Bà-la-môn ở cấp cao nhất cũng không nắm được. Tôi đã hỏi thử các vị: “Agal càng khó hiểu, không thể giải thích, thì càng siêu, càng linh thiêng!”.
Các vị chỉ còn thuộc lòng âm, cùng các thao tác cần thiết để hành lễ. Cũng đã đủ.
Bởi dẫu sao, ta cần nói lên lời Đwa Apakal các vị: Vì đã sống, đã truyền lưu, và đã hành lễ cho chúng ta – những đứa con của Đất còn sót lại ở hôm nay.

*
PS.
Đwa karun có nghĩa “cảm ơn” bình thường, khác với chữ Đwa apakal (hay Apakar có nguồn gốc upakara của Sanskrit) là cụm từ mang hàm nghĩa lớn hơn. Khi đối tượng giúp mình một việc lớn, để mình mang ơn nghĩa lớn, mình nói: Đwa apakal.
Như trong Sử thi Akayet Dewa Mưno: “Mik đwa apakal grơp kamwơn”: Cô [hoàng hậu] mang ơn tất cả các cháu (sau khi chinh chiến trải qua bao nhiêu cơn bĩ cực, cuối cùng đưa hoàng tử Dewa Mưno về tới hoàng cung).

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)