Inrasara: Hồ sơ biên bản so sánh. Bài 18

THƠ TRẺ CHAM VÀ THƠ CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ PHÍA BẮC
Khác biệt từ tư duy thơ đến khác biệt của cách xuất hiện và lối biểu hiện

Người Cham làm thơ tiếng Việt muộn.
Trong khi ngay từ thời kháng chiến chống Pháp, các nhà thơ dân tộc thiểu số ở phía Bắc như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông Viết Toại, Triều Ân… đã có mặt; rồi thời kì chiến tranh với Vương Trung, Vương Anh… vắt sang giai đoạn thống nhất đất nước, nổi lên các tên tuổi Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Mai Liễu, Dương Thuấn… thì mãi năm 1996, Inrasara mới cho ra tập thơ đầu tay Tháp nắng do NXB Thanh niên xuất bản.
Như thế là muộn, quá muộn nữa là khác. Bởi truyền thống Cham đã có văn học viết từ thế kỉ XV-XVI. Muộn, mãi khi cơ hội tới với sự ra đời của đặc san Tagalau – Tuyển tập sang tác – sưu tầm – nghiên cứu Cham vào mùa Katê năm 2000, và khi đã thực sự nhập cuộc, các thi sĩ Cham xuất hiện hàng loạt và ồ ạt, để tạo nên một hiện tượng.
Cùng những khác biệt rất riêng.

1. Khác biệt từ tư duy thơ
Lối nghĩ cũ bị quy định bởi hệ mĩ học nông nghiệp vẫn còn kiên trì bám trụ nơi tâm thức nhiều người làm thơ Việt hiện nay, khiến tư duy thơ chúng ta co cụm lại, cố thủ trong truyền thống xưa cũ. Từ người Việt, Vương Trọng chẳng hạn. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Inrasara: Hồ sơ Biên bản So sánh. 17. THÔNG ĐIỆP “TÔI LÀ CỘT ĐIỆN” CỦA LÊ ANH HOÀI

clip_image002_thumb10

1. Họa sĩ Như Huy được cho là người khơi mào cho thơ trình diễn Việt Nam, bằng một màn trình diễn thơ trước… ít khán giả, tại quán Cafe EraWine – TP Hồ Chí Minh, vào năm đầu tiên của thế kỉ XXI. Năm năm sau, Hà Nội mới biết đến loại hình nghệ thuật mới này qua chương trình “Chiều buông đầy những tiếng thở dài” của nhà thơ Dương Tường tại L’Espace. Để rồi qua sự kiện thơ trình diễn tại Sân Thơ Trẻ ở Văn Miếu vào năm 2008 và 2009, thơ trình diễn đã tiến một bước đáng kể(1).
Tuy thế, ở các cuộc trên, tương tác giữa nhà thơ và khán giả là điểm cốt tủy của thơ trình diễn lại hoàn toàn vắng mặt. Không ít nhà thơ biến thơ trình diễn thành thứ trình diễn thơ: cứ mang thơ loại nào bất kì lên sân khấu diễn, thì nghiễm nhiên trở thành thơ trình diễn! Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Hồ sơ Biên bản So sánh 16. TỪ “ĐỪNG!” CỦA ĐINH LINH ĐẾN “LUỘC” CỦA LÝ ĐỢI

1. Từ truyền thống húy kị
Nỗi húy kị của văn hóa Hán học ám ảnh chữ nghĩa Việt làm nên một thứ truyền thống lạ lẫm nhưng lâu dài, bền chắc. Sau tám thế kỉ, mấy trăm từ húy kị được kê khai để mỗi năm mỗi bổ sung thành một danh sách dài ngoằng đến các sĩ tử đã phải hao tốn bao nhiêu sinh lực học thuộc lòng mới tránh khỏi vạ chữ. Việt Nam thời hiện đại, đại bộ phận húy kị cũ biến mất, thay vào đó là những húy kị mới khai sinh, vừa cụ thể vừa mơ hồ nên nó tiềm ẩn nhiều nguy cơ khôn lường hơn. Húy kị từ tên người cho đến những biểu tượng và huyền thoại nhân tạo. Truyền thống húy kị ăn sâu vào tiềm thức tạo nên tâm lí cộng đồng khó gột rửa. Cả ở lĩnh vực sáng tạo văn chương tưởng là nơi húy kị không thể bén mảng tới, vậy mà nó vẫn có mặt. Có mặt, và nhắc nhở nhà văn, nhà thơ Việt Nam… đừng. Đừng và tránh. Ví có động vào biểu tượng và huyền thoại kia, chữ nghĩa ta cũng dừng lại ở bóng gió, “ẩn dụ”. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

QUÀ TẶNG CỦA QUỶ SỨ – TRẦN WŨ KHANG

Bài thơ “Quà tặng của Quỷ sứ” trong tập thơ cùng tên do Nhà xuất bản Giấy Vụn, Sài Gòn in năm 2009, đã được nhà thơ Đinh Linh dịch ra tiếng Anh. Bài thơ vừa được Eiríkur Örn Norðdahl, một nhà thơ Iceland nổi tiếng dịch, đăng Ở ĐÂY
http://heimskan.blogspot.is/2015/11/gjof-andskotans-eftir-tran-wu-khang.html
Bạn đọc có thể đọc lại nguyên tác tiếng Việt và bài bình của Inrasara đăng trên Vanviet Ở ĐÂY http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/ho-so-bin-ban-so-snh-bi-9-tho-tao-hnh-hau-hien-dai-c-g-moi/

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Hồ sơ Biên bản so sánh. Bài 14: VÔ CẢM ĐỜI VÔ CẢM THƠ

1. Hai nữ sinh đánh nhau dưới góc phố, nhóm bạn đứng quanh hò hét cổ vũ, ta đi ngang qua thấy, đứng lại nhìn, rồi thản nhiên bước đi. Chuyện nhỏ!
Anh kế toán chạy xe từ ngân hàng mang bọc tiền lương đến cơ quan, ngang ngã tư thì bị va quẹt, cái bọc rách làm đám tiền bay tán loạn, cả khối người xô tới “lượm”, đút túi, rồi đi; ta đi xe ngược chiều thấy, cho xe chậm lại, nhìn, rồi rồ ga chạy đi. Chuyện không liên can gì đến ta.
Vô cảm nhỏ tới vô cảm to. Lấn ở ải Nam Quan, xây đảo nhân tạo ở Biển Đông; chủ quyền đất nước bị xâm phạm ư? – Đã có Đảng và Nhà nước lo. Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận ảnh hưởng cả khu vực ư? – Nỗi ấy còn xa vời lắm. Xung đột ở Tu viện Bát Nhã chỉ là vấn đề nội bộ tôn giáo. Còn vụ vi phạm tự do ngôn luận chỉ liên quan riêng cá nhân nhà văn Nguyễn Quang Lập…
Ngày qua ngày, ta cứ thái độ vô cảm, như không có gì xảy ra ở đó. Riết thành quen.

Nguyễn Quang Lập “đồng nghiệp” sớm tối ngó mặt nhau mà ta đã vô cảm, huống chi nữ nhà thơ trẻ Nadia Anjuman ở tận đất nước Afghanistan xa xôi. Không một nhà thơ Việt Nam nào khóc. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Hồ sơ Biên bản so sánh. Bài 13: GIẢI HUYỀN THOẠI LỤC BÁT

[Để thay đổi bầu không khí, xin trở lại quá khứ xa]

1. Vấn đề tương quan lục bát Cham Việt được Võ Phiến đặt ra đầu tiên trong tùy bút “Thơ lục bát Chàm”(1). Ông viết một đoạn đáng chú ý:
“Một thể thơ phổ biến khắp hang cùng ngỏ hẻm, đã được mọi tầng lớp dân gian ngâm nga, đã làm cơ sở cho các điệu dân ca v.v…, một thể thơ như thế không thể được vay mượn, không thể du nhập từ ngoài vào. Nó phải bắt nguồn từ đầu ngay trong cuộc sống dân tộc. Do đó, giữa câu thơ Việt và câu thơ Chàm hẳn không phải có tương quan ảnh hưởng, mà có mối tương quan về nguồn gốc”.
Tôi rất muốn tô đậm mệnh đề: “mối tương quan về nguồn gốc”. Bởi từ mệnh đề này, sự mới sanh. Võ Phiến đã có gợi ý quan trọng, tiếc là chưa có nhà khoa học nào để tâm vào phát kiến đó. Bởi người ta cứ đinh ninh lục bát là thể thơ thuần Việt. Đinh ninh đến tận thế kỉ XXI, một vị vẫn còn khẳng định chắc nịch: “lục bát, song thất lục bát… là bản sắc độc đáo riêng của người Việt ta”(2). Khổ thế chứ!
Cho dù trước đó, giữa thập niên 60, Jaya Panrang (Lưu Quý Tân) sưu tầm và dịch ca dao Cham có cấu trúc tương tự lục bát đăng rải rác ở tạp chí Phổ thông, Thời nay. Ví như:
Jwai jiong di jơk lo đei
Jiong di kamei jơk siam binai
Jwai jiong di jơk lo tra
Jiong di dara jơk siam binai
Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Hồ sơ Biên bản so sánh. Bài 12. THƠ YÊU NƯỚC & CÂU CHUYỆN HÀI HƯỚC ĐEN

[về bộ ba Nguyễn Việt Chiến – Nguyễn Phan Quế Mai – Lê Vĩnh Tài]

Giữa bạt ngàn thơ ra đời từ sự kiện Biển Đông, ba bài thơ: “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến, “Tổ quốc gọi tên” của Nguyễn Phan Quế Mai, và “Biển kể về nhiều chuyện khác” của Lê Vĩnh Tài là nổi tiếng nhất. Nổi tiếng từ ba vị thế và bằng ba cách thế khác nhau.
“Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến được viết ngay khi anh mãn hạn tù, và chắc chắn đó là một trong những bài thơ “yêu nước” sớm nhất được trình làng từ phía văn học chính thống. Bài thơ “Tổ quốc gọi tên” của Nguyễn Phan Quế Mai nổi tiếng qua ca khúc phổ nhạc “Tổ quốc gọi tên mình” được trình diễn ở rất nhiều sân khấu lớn nhỏ sau đó, nó càng nổi tiếng hơn nữa qua nghi án “đạo thơ”. Riêng Lê Vĩnh Tài, đây là hiện tượng thơ mạng trong thời gian dài, từ “Khi nào bà muốn – xin hãy đến!” xuất hiện ở thời đoạn sự kiện Hoàng Sa – Trường Sa đầu năm 2008 cho đến tận “Trường ca Tây Tạng” đăng trên Tienve.org giữa năm 2015.
Thế nhưng do ở vị thế khác, viết bằng tâm thế khác nên cách thể hiện mỗi nhà thơ mỗi khác. Khác từ thái độ của người thơ, khác qua ngôn từ, thi ảnh, nhịp điệu, khác sang tận tận thi liệu được sử dụng. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Hồ sơ Biên bản so sánh. Bài 10: THƠ [TRONG, NGOÀI & SAU] TÙ CỦA VIỆT NAM

Xuyên suốt thế kỉ XX, Việt Nam là đất nước của tù tôi. Tù và tội. Tù thực dân, tù Cộng sản, tù Quốc gia, và cả tù Hòa bình. Muôn hình vạn trạng qua vô số nguyên do với bạt ngàn phận người, trong đó có không ít người làm thơ.
Nổi tiếng nhất phải kể đến Hồ Chí Minh với Nhật kí trong tù (1960) và Nguyễn Chí Thiện với Hoa địa ngục (1980) của ông. Nhìn chung, hầu hết nhà thơ sử dụng thơ ca như phương tiện lột tả cuộc sống trong tù để tố cáo chế độ ngục tù (Nguyễn Chí Thiện), hay dùng thơ bày tỏ chí khí (Hồ Chí Minh): “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao”, hoặc như Tố Hữu: nói lên lòng căm thù, còn nếu có nhắc đến nỗi cô đơn: “Cô đơn thay là cảnh thân tù!” thì cô đơn ấy luôn vững niềm tin vào ngày mai tươi sáng: “Tôi sẽ cười như kẻ sẵn lòng tin”.
Nghĩa là hiếm có bài thơ nảy sinh ở “ngoại vi” nhà tù, hay hơn nữa – sau khi thi sĩ ra khỏi nhà tù. Ở đó, “Đi về” của Tô Thùy Yên và “Người về” của Hoàng Hưng xuất hiện như ca lạ biệt, vô cùng độc đáo trong lịch sử thơ [tù] tiếng Việt.

Tô Thùy Yên
ĐI VỀ Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Hồ sơ Biên bản văn học. Bài 9: THỜI KHÁC, THƠ KHÁC, YÊU CŨNG KHÁC

[Về “Nắng chia nửa bãi chiều rồi” của Nguyễn Hoàng Nam]

1. Yêu mỗi thời mỗi khác, thơ mỗi thời mỗi khác. Thì thơ về yêu cũng phải khác, ở mỗi thời. Vậy mà mãi hôm nay, nhiều nhà thơ Việt vẫn không chịu khác, mới dở.
Xưa, phải cực kì nghiêm túc đâu ra đấy như Nguyễn Đình Chiểu: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra/ Nàng là phận gái, ta là phận trai”, các cụ mới chịu. Còn Kiểu của Nguyễn Du thì bị coi là đã sa đà rồi. Mà có chi ghê gớm đâu! Gái trai gặp nhau, dù bị tiếng sét ái tình đánh gục ngay cái nhìn đầu tiên, Nguyễn Du vẫn cho “Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa”. Đến khi tình dậy cơn chịu không thấu, Kiều mới phá lệ “Xăm xăm bằng lối vườn khuya một mình”; rồi khi thấy chàng “Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”, Nguyễn Du đã cho nàng sạc ngay: “Thưa rằng: đừng lấy làm chơi”; để cuối cùng chàng Kim chả làm ăn được gì, khi Kiều luân lạc. Mãi khi – Võ Phiến đùa: “Kim Kiều tái ngộ đang độ trẻ trung chừng ấy, sớm tối ra vào gần gũi nhau chừng ấy, mà tác giả nhất mực không cho họ “biết” nhau đến cùng thì ai mà chịu được”(1) Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Inrasara: Hồ sơ Biên bản so sánh. Bài 8. CHIẾN TRANH VIỆT NAM: TÔI, TA & HẮN

[Trịnh Công Sơn – Chú Bộ đội – Nguyễn Bắc Sơn]

Với chiến tranh Việt Nam…
Trịnh Công Sơn là một nghệ sĩ phản chiến với những Ca khúc Da vàng mà tiếng tăm vượt ra ngoài biên giới Việt Nam.
Quê hương đã mất, sau đó bị chia cắt. Anh đi tìm quê hương, một quê hương đầy đặn và thanh bình, nhưng ở đó chỉ thấy ngày dài, và đêm dài. Hỏa châu, hầm chông, hố bom, lửa đạn, làng xóm và thành phố tan hoang, xác Việt nằm la liệt. Trong rừng hoang, nơi góc phố, trên ruộng đồng…
Mênh mông xác người, anh như kẻ mù mò tìm người thân yêu: “Xác nào là em tôi dưới hố hầm nay, bên xác người già yếu, có xác còn thơ ngây…”
Xác da vàng với đủ hình thù không thể biện biệt, anh như muốn điên lên, “hát trên những xác người…”
Rồi anh nhìn ra vấn đề, và anh giận dữ: “Thịt da này dành cho thù hận, cho bạo cường, cho tham vọng của một lũ điên”. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 8.0/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)