Giải đáp 3. SÁCH VỀ CHAM CẦN ĐỌC

[Để có kiến thức căn bản và tương đối về Cham và văn hóa Cham – phản hồi đến nhiều bạn đọc]

Đây là đề nghị qua kinh nghiệm đọc của tôi, gồm các công trình [chủ yếu bằng tiếng Việt] mang tính chuyên môn mà không liệt kê tác phẩm tập hợp những bài nghiên cứu gom lại in thành sách. Bạn đọc có thể bổ sung, nếu thấy công trình nào khác cần thiết.

1. Về lịch sử – dân tộc
Dohamide và Dorohiêm, Lược sử dân tộc Chàm, Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam xuất bản, Sài Gòn, 1965
Hồ Trung Tú, Có 500 năm như thế, NXB Thời Đại, H., 2011
Maspero H., Royaume du Champa, Van Oest, Paris – Bruxelles, 1928
Nguyễn Văn Luận, Người Chàm Nam bộ ở Tây Nam Phần, NXB Giáo dục và Thanh niên, Sài Gòn, 1974
Pièrre-Bernard Lafont, Vương quốc Champa – Địa dư, Dân cư và Lịch sử, IOC ấn hành, Califfornia, Hoa Kỳ, 2011 Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Bá Văn Trinh: Thơ Jalau, mảnh tình xưa để lại

Doc1

Văn học Chăm hiện đại vô cùng phong phú, đặc sắc, Inrasara có lần nhắc đến tên Jalau qua những bài thơ được đăng trong Panrang, Tuổi ngọc, viết chung với Mai Xuân Tâm, trong tập “Tay xuôi mắt nhắm mơ người”, Jalau được xem như người làm văn nghệ trẻ tài năng, đã từng góp mặt tiên phong trong làng thơ mới, đã để lại nhiều bài thơ đầy cảm xúc. Tôi mạo muội giới thiệu thơ ông, việc làm này như một lời tri ân sâu sắc đối với người yêu thơ, làm thơ “tài cao phận thấp” này. Qua bài này, tôi muốn gửi đến các anh chị, bạn bè cùng thời với Jalau, những người yêu và sống trong chiến tranh, trong hòa bình, một người luôn sẵn sàng đối diện với những gì mà tạo hóa đã ban cho họ. Thơ Jalau viết về tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương, nơi ông đang sống. Chúng ta hiểu, cảm thông với ông. Đó chính là một lời động viên, an ủi thầm kín với một người làm thơ đã không còn trên cõi đời này.
Chúng ta nói đến Jalau – tên thật là Trượng Văn Lầu. Chúng ta liền nghĩ ngay đến một số phận, một cuộc đời dang dở. Ông làm thầy dạy học, làm thơ, yêu đời, làm thầy thuốc chữa bệnh cứu người, nhưng cuộc đời lại phụ bạc ông một cách tàn nhẫn. Ông sinh năm 1951, mất năm 2004 tại Hamu Tanran, một làng quê có truyền thống thơ văn nổi tiếng trong vùng, từ thời ông Maduen Jaw, chú ruột Jaya Panrang. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

ANH ĐẠM TÔI ĐÃ ĐI RỒI…

01-Anh Dam 1970
Anh Phú Đạm vừa đi lúc 23:52 giờ, ngày 8 tháng 2-2016 tại quê nhà.
Anh đã chịu đựng suốt nửa tháng trời, để qua đi: Lễ Nhập Kut của dòng họ Hamu Bhauk – Chakleng, Đám cưới của cháu bên vợ, Ngày trăng hết và ngày Mồng Một lịch Cham [không lành], cuối cùng là Đám hỏi của cháu bên nội buổi chiều cùng ngày.
Khi mọi sự đã thông, anh đi nhẹ nhõm. Vì bà con, vì con cháu đến hơi thở cuối cùng, là vậy.
Dòng cha, tôi có ba ông anh quý mến. Anh Lưu khoảng cách tuổi tác và ít gặp, gặp thì vội vội vàng vàng. Phone từ Mỹ cũng thế: có gì đó cứ như là gấp gáp.
Anh Bộ gần tôi hơn. Thuở hàn vi, tôi đạp xe qua anh mỗi tuần, nói vu vơ vài ba chuyện ruộng rẫy, sách vở. Thế thôi. Tôi coi anh như guru của tôi. Anh mất sớm: 44 tuổi. Tôi có 3 bài thơ về anh.
Anh Đạm anh ruột, nông dân-thi sĩ chính hiệu. Trước, anh có làm thơ tiếng Việt, thấy không tới đâu, chuyển hẳn sang tiếng mẹ đẻ. Rất khá. Nghèo và đạm, như tên của anh. Ở quê, rỗi – tôi sang anh. Anh em ngồi với nhau vài mươi phút, uống li trà, rồi về. Làm dân Sài Gòn, mỗi bận về quê, tôi đều ghé anh. Cũng ngần ấy thời gian cho nhau. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

Giải đáp 2. TRUYỀN THỐNG VÀ SÁNG TẠO

[Trả lời bạn đọc phản hồi trên Inrasara.com]

Bạn đọc viết: “Như vậy thì phải giết nghệ sĩ đi, vì tội phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc”.
– Đúng, “giết” thì nhân loại đã từng “giết” nghệ sĩ từ lâu và giết nhiều rồi, nhưng sáng tạo thì nghệ sĩ vẫn cứ sáng tạo! Vì đó là chức phận và định mệnh của hắn.
Kẻ sáng tạo luôn làm khác truyền thống, làm khác để tạo ra truyền thống khác. Thế mới gọi là sáng tạo.
Không đâu xa, ngay ở Việt Nam, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du đã chịu bao nhiêu búa rìu dư luận. Nữ thi sĩ họ Hồ thì bị xã hội phân biệt đối xử, còn Nguyễn Du giai thoại kể rằng nếu còn sống thì bị vua Tự Đức nọc ra đánh roi. May mà ông vua này còn biết yêu văn chương, không thì Nguyễn Du tiêu và kiệt tác này cũng tiêu luôn. Riêng dân gian Việt thời đó còn truyền tụng: “Đàn ông chớ đọc Phan Trần/ Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều”. Thế mà hôm nay, về văn học, chính hai tác giả này mà người Việt Nam ưỡn ngực với thế giới! Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Đỗ Tấn Thảo: TRINH NỮ

Một năm tất bật trôi xa
Đóa mai chớp mắt mới vừa hôm qua
Bi giờ đếm,từng sát na
Mắt tím cười mỉm ta là chúa xuân
Tạ ơn người đã bâng khuâng
Năm sau ta vẫn trong ngần mắt thơ
Tạ ơn bụt đẫm giấc mơ
Cỏ cây vươn nắng nương nhờ phận xanh
“Giáo khư” đứng gió khô quanh
Trinh nữ khép mở ngọn ngành lý do

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 3.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Inrasara: Giải đáp 1. TẠI SAO CỨ PHẢI NÉ TRÁNH NHẠY CẢM?

Trả lời email gửi chung của Chế Linh.
[Nhận định về “Bình luận của thi sĩ Chế Mỹ Lan về “những câu nói” của nhạc sĩ Từ Công Phụng trong đêm Đại nhạc hôi Champa” trên FB Mylan Che ngày 30-1-2016]

Lẽ ra bình luận chính “những câu nói” của nhạc sĩ Từ Công Phụng, tuy thế tôi thích viết về phản ứng của Chế Mỹ Lan về “những câu nói” này hơn. Vì nó cần thiết hơn bao giờ…
Đây là “cảm nhận” chân thật của một nữ sĩ Cham yêu dân tộc và lo lắng cho văn hóa dân tộc. Và về căn bản, tôi hoàn toàn đồng tình với tinh thần bài viết của CML.
Điều đáng ghi nhận đầu tiên là, bên cạnh Kiều Maily(1), hiện nay Chế Mỹ Lan là người nữ dũng cảm lên tiếng về các vấn đề cộng đồng Cham và văn hóa Cham. CML không nói sau lưng, không ám chỉ, mà trực diện và công khai tên tuổi, sự việc để phê phán. Là điều ngay cả các đấng nam nhi cũng hiếm khi làm được.
Bởi là “cảm nhận” nên bài viết hơi lan man; cạnh đó vài bạn FB tham gia còm càng không rành rọt: Bạn thì biểu đồng tình, người thì khuyên nên nhẹ nhàng trong lời lẽ, kẻ thì nguệch ngoạc vài ba chữ ra vẻ bí hiểm không biết để làm gì…
Chuyện nhạy cảm: về sự thật lịch sử Champa, hay chuyện lứa con cháu phê bình thế hệ đi trước đòi hỏi một phân tích thấu đáo để nhận chân sự thể, chứ không qua loa được. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Inrasara: Hồ sơ biên bản so sánh. Bài 18

THƠ TRẺ CHAM VÀ THƠ CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ PHÍA BẮC
Khác biệt từ tư duy thơ đến khác biệt của cách xuất hiện và lối biểu hiện

Người Cham làm thơ tiếng Việt muộn.
Trong khi ngay từ thời kháng chiến chống Pháp, các nhà thơ dân tộc thiểu số ở phía Bắc như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông Viết Toại, Triều Ân… đã có mặt; rồi thời kì chiến tranh với Vương Trung, Vương Anh… vắt sang giai đoạn thống nhất đất nước, nổi lên các tên tuổi Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Mai Liễu, Dương Thuấn… thì mãi năm 1996, Inrasara mới cho ra tập thơ đầu tay Tháp nắng do NXB Thanh niên xuất bản.
Như thế là muộn, quá muộn nữa là khác. Bởi truyền thống Cham đã có văn học viết từ thế kỉ XV-XVI. Muộn, mãi khi cơ hội tới với sự ra đời của đặc san Tagalau – Tuyển tập sang tác – sưu tầm – nghiên cứu Cham vào mùa Katê năm 2000, và khi đã thực sự nhập cuộc, các thi sĩ Cham xuất hiện hàng loạt và ồ ạt, để tạo nên một hiện tượng.
Cùng những khác biệt rất riêng.

1. Khác biệt từ tư duy thơ
Lối nghĩ cũ bị quy định bởi hệ mĩ học nông nghiệp vẫn còn kiên trì bám trụ nơi tâm thức nhiều người làm thơ Việt hiện nay, khiến tư duy thơ chúng ta co cụm lại, cố thủ trong truyền thống xưa cũ. Từ người Việt, Vương Trọng chẳng hạn. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

TRÍ THỨC LÊN TIẾNG & CHÍNH QUYỀN XỬ LÍ

“Là trí thức mà bạn không [biết/ dám] lên tiếng về các vấn đề cộng đồng, là bạn chết lâm sàng rồi còn gì”

Vụ “Đốt nhang trong lòng tháp” coi như đã kết toán, và được lưu “Hồ sơ vấn đề Cham”. Duy có một ý kiến lạ cần dành sự phân tích thấu đáo hơn, để rút kinh nghiệm và nhất là, để cảnh giác.
Khi lên tiếng về vụ này, một bạn FB [để tránh rắc rối không đáng, xin không nêu tên nữa] cho là tôi muốn “kiếm bả danh lợi”. Đây là phát biểu lạ lẫm nhất mà tôi từng biết.
Lợi thì dứt khoát không rồi – vì nó cụ thể có thể kiểm chứng được; riêng danh, sẽ rõ hơn ở phần sau. Tạm nêu 3 sự vụ mới nhất để minh giải.

1. VẤN ĐỀ ĐẤT GHUR BINI BỊ XÂM HẠI
Khởi nguồn từ Ghur Darak Neh. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

HUYỀN THOẠI VỀ TÁC PHẨM CÓ VẤN ĐỀ

Cuốn sách vừa ra lò in đã có lệnh thu hồi, nó thành huyền thoại; ngắn hay dài hạn, tùy. Có tác phẩm in ra, chìm, nhưng người đẻ ra nó vẫn cứ hô hoán lên nó có vấn đề; để bán sách, để tạo tiếng vang, và… cũng đã từng làm nên huyền thoại: huyền thoại giả. Lại có cây bút không làm nổi tác phẩm ra hồn, sợ bị đời quên, nên la làng rằng tác phẩm tôi không thể in được ở Việt Nam, là một cách tạo huyền thoại kiểu khác.
Muôn vẻ huyền thoại.
Chắc chắn huyền thoại xuất phát từ tác phẩm tôi phải in photocopy vì không qua nổi con mắt kiểm duyệt độc đoán của nhà nước, hoặc tôi không chịu khom mình chui qua cửa xuất bản chính thống của chế độ toàn trị, là loại huyền thoại có đất sống dai dẳng hơn cả. Tạm đặt tên là TFinP. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

URANG CHAM. Phụ lục 2. CÁC KHUÔN MẶT CA NHẠC CHAM HIỆN ĐẠI

1. Châu Văn Kên
Giữa thế kỉ XX, sau những biến động lớn của lịch sử xã hội, cộng đồng Chăm đã ổn định trở lại. Ngoài giải quyết vấn đề sinh nhai và đời sống thường nhật, quần chúng cũng cần đến nhu cầu thưởng thức văn học nghệ thuật. Về thơ, đã có các Akayet và các Ariya cổ điển, sau đó thời cận đại các nhà thơ Chăm cũng đã sáng tạo tác phẩm mới; riêng nhu cầu âm nhạc, các dân ca cổ chưa thể đáp ứng được.
Jaya Mrang, Đàng Năng Quạ, Châu Văn Kên xuất hiện trong khí quyển xã hội đó.
Ở buổi đầu, do sang tác mang tính nghiệp dư, các “nhạc sĩ” chỉ dùng lời Chăm “phổ nhạc” Việt, ở đó lối làm của Jaya Mrang (Chakleng) là rất điển hình. Các ca khúc như “Mưlơm jwa” (Đêm vắng), “Jalan dwa gah” (Đường hai ngả), “Harei taum bbauk” (Ngày gặp mặt), “Lơy abih drei” (Ơi anh em ta)… được giới trẻ lúc đó ưa chuộng. Ca từ của ông giàu chất thơ, trữ tình và tha thiết. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)