TÔI & VĂN NGHỆ SĨ 7-8

07. Trần Anh Thái &… tôi

Anh bộ đội đúng nghĩa bộ đội, xong nghĩa vụ trở về làm chữ nghĩa, thì văn chương ấy luôn tràn ý nghĩa. Và hay. Tôi biết vài nhà văn bộ đội như thế: Nguyễn Bình Phương, Bảo Ninh, Trần Anh Thái… Ở phía bên kia: Cao Xuân Huy là một.
Ra trận, họ cầm súng xông vào lửa đạn. Họ bắn thật, chứ không bắn bổng. Xong, họ về, họ dằn vặt về cái bắn của mình. Ngẫm thân phận con người, thân phận chiến tranh. Và viết.
Khác hẳn một anh bạn thơ, dự Trại Sáng tác Vũng Tàu năm 2002, anh kể sau một trận ác chiến giáp lá cà, đại đội anh bắt sống hơn chục lính Cộng hòa, cho xếp hàng, và xử luôn. Xử, do đồng đội mình chết nhiều, đau và căm giận – không sao cả, nhưng cái giọng anh kể sau 25 năm, nó mới khoái đến ác.
Anh làm thơ dở thì phải, – tôi nói.

Trần Anh Thái chắc chắn không thuộc típ bộ đội đó rồi. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

khaly chàm: tháng tư hiện trong đồng tử

tưởng như tiếng đập cánh từ trực giác
thời khắc liên kết cùng vòng đêm mang mùa xuân ra đi
những ngón tay đang cắn nát dự cảm màu nhiệt đới mưu toan xám lạnh
tôi trong gương nghiến răng như loài thú hoang
phà ra hằng số nốt lặng đen hiện thể sự giam cầm ý thức Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Trần Việt Hà: HƠI THỞ CHĂM MAN HOANG MÃNH LIỆT TRONG “ĐỨA CON CỦA ĐẤT” INRASARA

(Trích tuyển tập “THI NHÂN VIỆT NAM 1986-2016”)
FB Tranvietha, 14-4-2017
Không ai có thể hát thay chúng ta
nơi đây và lúc này
cả hôm sau, có lẽ
.
Đó chính là một tuyên ngôn đầy tự tin, mạnh mẽ và ngạo nghễ về tiếng nói của thế hệ mình từ “đứa con của Đất” Inrasara, một nhà thơ người Chăm nổi tiếng của Việt Nam hiện nay. Điều này đặc biệt hấp dẫn đối với tôi, bởi sau tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên (bông hoa lan trong khu vườn nhà họ Chế – dòng họ vua chúa của dân tộc Chăm ở nước Chiêm Thành xưa) hoài vọng những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị thần bí ở với tháp Chăm của thời Điêu tàn với xương, máu, sọ người gợi nhắc hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son… thì chỉ đến Inrasara, hồn cốt văn hóa dân tộc Chăm mới thực sự được cất lên mạnh mẽ, sâu sắc và ngân nga, trọn vẹn nhưng cũng không kém phần đau đáu khắc khoải đến như vậy.
Thơ của ông là chuỗi những khúc quê khi nồng nàn say đắm mang hơi thở man dại khỏe khoắn khi man mác canh cánh đầy trăn trở thổn thức theo nhịp hồn của một dân tộc cố gắng níu giữ lại những giá trị cốt lõi đang dần bị mai một, lạc điệu giữa cuộc sống nhanh, thực dụng và xu thế toàn cầu hóa. Khát vọng tìm về nguồn cội đó được thể hiện khá rõ trong “Đứa con của Đất”, bài thơ tri nhận đời người. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

TÔI & BẠN VĂN NGHỆ 4-5-6

04. Nguyễn Viện & Tôi

Nguyễn Viện thích chơi chữ, nên bị chữ chơi lại, đáng lắm.
Đẻ xong tập thơ để đời, vội kêu là tập duy nhất, sẽ không thêm bài nào nữa – lại làm.
Xong vài tiểu thuyết bất hủ, hứa không viết nữa – lại ra tiếp mấy cuốn.
Hứa chi để mà thất hứa chứ. Thà như Nguyễn Duy, một lần hứa là hạ quyết tâm giữ lời. Muốn chơi lại thì kêu Vietnam Airlines chở cả đống thúng mủng rổ rá đính kèm thơ ra Hà Nội với quê nhà triển lãm cho thiên hạ xem chơi.
Nói đùa vậy chớ, có lẽ do Nguyễn Duy xài hết trơn trọi đạn. Còn anh, sung ống còn đầy ra, sao lại nín! Nín gì thì được, ai dại đi nín chữ. Nguyễn Viện là một trong vài tác giả [văn xuôi] ruột của tôi.
Kể một kỉ niệm hơi dài với anh [liên quan tới tấm ảnh]. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

TÔI & BẠN VĂN NGHỆ 1-2-3

01. Lê Vĩnh Tài & Tôi

Xa palei, xa bạn văn, xa cả văn chương, cũng nhơ nhớ.
Vừa qua đăng loạt ảnh “Giữa lòng bạn bè thân hữu”, tính làm dài dài, nửa chừng ngoảnh lại thấy nó hơi vô duyên. Vô duyên, thì ngưng. Thôi thì thử tỉ tê vài kỉ niệm nho nhỏ với bạn văn nghệ, biết đâu mai hậu nhà nào đó sử dụng làm tư liệu cho… văn học sử, mình cũng được xí phần. Thì kể…

Tôi biết Lê Vĩnh Tài lần đầu qua Hoàng Thiên Nga, khoảng năm 1997 gì đó; rồi cái tên đó trôi tuột đi mất đâu không nhớ nữa. Mãi gặp Niê Thanh Mai, khi ấy lên Ban Mê rủ rê cô nàng viết cho Tagalau, tôi nghe lại nó lần hai. Ở trển, chúng ca nhau phải biết! Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

THỬ TÌM SINH LỘ CHO CHAM AHIÊR-AWAL 80

1. Veda có 4 bộ kinh: Rig-Veda gồm tri thức về các thánh ca, ca tụng thần linh dưới dạng thi ca; Sama-Veda, gồm tri thức về các giai điệu, cầu nguyện thần linh trong lễ hiến tế; Jayur-Veda: tri thức về các nghi lễ, tế lễ, dạy những thể thức hành lễ theo thứ tự các bậc chư thần; và Atharva-Veda: tri thức về các thần chú, gồm công thức thần chú, ma thuật. Mỗi bộ kinh gồm 4 phần:
Mantra: thánh ca, cầu nguyện thần linh dưới dạng thi ca.
Brahmana: Phạn chí hay kinh Bà-la-môn, là các bài kinh cầu nguyện giải thích các nghi thức tế tự chuyên dùng cho các tu sĩ cao cấp.
Aranyaka: Kinh Rừng, dùng cho nhà tu khổ hạnh.
Upanishads: Áo nghĩa thư, kinh bình chú có tính triết học – tôn giáo [upa: gần, ni: cung kính, shad: ngồi = dưới chơn thầy].

2. Muốn biết Cham đào tạo tu sĩ như thế nào, cũng cần biết qua hệ thống chức sắc Bà-la-môn.
Halau janưng Cham Ahiêr hôm nay hành trình từ Đung Akok, Liah [thợ phụ và chính ở nghi thức “Đốn gỗ” trong Đám thiêu] sang Pwah để nhập vào hàng tăng lữ Bà-la-môn là một giai đoạn phấn đấu dài. Đây có thể gọi là thời tu tập “dưới chơn thầy”. Từ Pwah [phụ trách Đám thiêu hai Paxêh] lên Tapah được cho là đạo sĩ đã thoát tục, bậc có thể thực hành mọi nghi lễ tôn giáo.
Tuy nhiên tùy khả năng và lễ tấn phong, Tapah [hay Baic] còn được phân ba cấp: Tapah Katat, Tapah Kađa, và Tapah Kađôi.
Dhya hay Adhya là bậc cao nhất phụ trách Bimông cho một khu vực. Biết thêm: Trong khu vực đó, nếu Dhya chưa qua đời, các cấp Tapah vẫn cứ ở lại cấp của mình, mà không thăng tiến bậc nào nữa.

3. Giai đoạn tu tập, các chức sắc Cham Ahiêr học gì?
Thử lướt qua nội dung 5 bộ kinh:
Agal Baic Balih gồm các kinh tụng trong lễ rửa tội cho tín đồ và tu sĩ phạm tội, tụng ở cả nghi thức rửa tội trong lễ thụ chức.
Agal Prong (Đại kinh lễ) dùng cho lễ tấn phong chức Tapah. Bộ này bao gồm cả Agal Baic Balih, và Kinh Mưta Yang tụng trong lễ Dựng Kut và Nhập Kut.
Agal Pak Pakaup hay Agal Pak Bêl Bôi dùng trong nghi thức Đih swa (nằm thiền) thuộc lễ tấn phong chức Tapah.
Baic Pakap hay Nat Cuh Yang Apui (Tế Thần Lửa) dùng tụng ở đền, tháp.
Baic Pakap Palei kinh tụng tẩy uế palei.
Như vậy, giáo sĩ cao cấp chỉ [mật/ bí] truyền cho nhau Kinh Lễ các loại, còn giáo dục công chúng tín đồ hoàn toàn phó thác cho… nhà thơ. Và hôm nay: cho Nhà nước.
Làm gì?

4. Đối chiếu với nguyên bản Ấn Độ, ở Cham: Thánh ca đã mất dấu, nhà tu khổ hạnh không còn nên Kinh Rừng không ai truyền tụng, còn triết lí chẳng tìm ra đất đứng thì Áo nghĩa thư biến luôn. Vậy, Cham chỉ còn Phạn chí tức Kinh Bà-la-môn, là các bài kinh cầu nguyện giải thích các nghi thức tế tự chuyên dùng cho các tu sĩ cao cấp.
Ngay cả phần này, Cham còn gì? – Thực sự, khuyết nhiều, rất nhiều.
Cả các mảnh còn lại, tu sĩ Bà-la-môn ở cấp cao nhất cũng không nắm được. Tôi đã hỏi thử các vị: “Agal càng khó hiểu, không thể giải thích, thì càng siêu, càng linh thiêng!”.
Các vị chỉ còn thuộc lòng âm, cùng các thao tác cần thiết để hành lễ. Cũng đã đủ.
Bởi dẫu sao, ta cần nói lên lời Đwa Apakal các vị: Vì đã sống, đã truyền lưu, và đã hành lễ cho chúng ta – những đứa con của Đất còn sót lại ở hôm nay.

*
PS.
Đwa karun có nghĩa “cảm ơn” bình thường, khác với chữ Đwa apakal (hay Apakar có nguồn gốc upakara của Sanskrit) là cụm từ mang hàm nghĩa lớn hơn. Khi đối tượng giúp mình một việc lớn, để mình mang ơn nghĩa lớn, mình nói: Đwa apakal.
Như trong Sử thi Akayet Dewa Mưno: “Mik đwa apakal grơp kamwơn”: Cô [hoàng hậu] mang ơn tất cả các cháu (sau khi chinh chiến trải qua bao nhiêu cơn bĩ cực, cuối cùng đưa hoàng tử Dewa Mưno về tới hoàng cung).

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

THỬ TÌM SINH LỘ CHO CHAM AHIÊR-AWAL 79

Trở lại vụ đốt nhang trong tháp

1. Theo truyền thuyết, Pô Inư Nưgar là Bà Chúa Xứ tạo lập vương quốc Champa.
Tháp Pô Nưgar được dựng trên ngọn đồi tại cửa sông Cái – Nha Trang để thờ Ngài. Đầu tiên, tháp bằng gỗ được dựng vào giữa thế kỉ thứ VII; sau nhiều lần bị quân Java phá hủy, người Cham đã xây dựng lại và hoàn thành vào năm 784, là tháp hiện còn đến hôm nay. Sau này quốc vương Harivarman I và con trai ông là Vikrantavarman III đã lần lượt xây dựng thêm năm tháp nữa.
Thời Pô Rômê, khi Nha Trang mất, Champa chỉ còn lại vùng Pangdurangga, tháp Pô Nưgar vẫn còn được cúng tế, chứ không bỏ mặc để trở thành tháp hoang như một số tháp khác ở miền Trung. Người Việt đến, họ thờ phụng Bà như thờ phụng chính Chúa của mình.
Bà Thánh Mẫu hay Thánh Mẫu Thiên Y A Na là tên tiếng Việt gọi Pô Inư Nưgar, là vậy.
Theo Nguyễn Thế Anh, hầu hết loại hình thờ Mẫu ở người Việt đều có nguồn gốc Cham, mà ông gọi là Việt hóa Thần Pô Nưgar của Cham (“The Vietnamization of the Cham Deity Po Nagar”, K.W. Taylor and John K. Whitmore, Editors, Essays into Vietnamese Pasts, Cornell University, 1995). Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 8.5/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

THỬ TÌM SINH LỘ CHO CHAM AHIÊR-AWAL 78

Chiến & Chối từ cuộc chiến? 01
[Trong cộng đồng Cham, tại sao tôi không dự cuộc đấu?]

Đây là câu hỏi cốt tủy của triết học, chứ ít thuộc phạm trù xã hội.
Mỗi lần cộng đồng xảy ra xung đột, câu nói đầu môi mang tính mỉa mai hay được phát ra là: Trí thức Cham lại đánh nhau rồi! – Là một phát ngôn không hiểu mình nói gì.
Hôm nay, dù ta là Cham Ahiêr, Cham Awal, hay dù ta là Muslim hay Ki-tô hữu, tất cả chúng ta đều được truyền thừa từ tinh thần triết học Bà-la-môn. Nó ăn sâu trong tâm thức cộng đồng, không thoát ra được. Văn hóa và truyền thống ngàn năm, chớ có đùa. Dù ít dù nhiều, tinh thần Tứ đẳng cấp vẫn còn dính đến ta!
Tại sao tôi không dự cuộc đấu? Tại sao phải chiến? Và tại sao Cham không thể không chiến với nhau?

1. Cuộc đối thoại giữa Krishna [hóa thân của Đấng Tối cao] với Arjuna [anh hùng thuộc đẳng cấp Ksatriya] trước trận chiến sinh tử giữa hai dòng họ chung huyết thống, ở ngay phần đầu của Chí tôn ca Bhagavad-Gita – quyết toán cho chúng ta nan đề này.
Chuẩn bị lâm trận, khi nhìn về phía đối thủ thấy những người thầy, ông, chú, bác, anh em, bạn chơi… Arjuna đã từ chối chiến đấu. Arjuna thà chịu chết chứ không muốn sát hại người thân, không thể ra tay giết họ dù phải bảo vệ ngai vàng trị vì ba thế giới. Bậc anh hùng cái thế này toan buông vũ khí…
Krishna, người tình nguyện đánh xe cho Arjuna, đã đánh thức “bổn phận đẳng cấp” của người anh hùng:
Hỡi Arjuna, linh hồn là vĩnh cửu nitga, là bất khả hủy diệt anāshi, là bất khả tri aprameya, là vô tận ananta, không tạm bợ như thân xác. Chớ than tiếc cho những phù sinh! Linh hồn không thể giết được ai và cũng không thể bị ai giết. Binh đao không thể sát hại được linh hồn, lửa không thể làm khô héo linh hồn…
Còn thân xác kia, chúng đều giả tạo và hư phù. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

THỬ TÌM SINH LỘ CHO CHAM AHIÊR-AWAL 77

Đâu là nền giáo dục truyền thống Cham? 01

Ramưwān vừa qua, Imưm Đạo Văn Tý cho hay, trong Thāng Mưgīk, muốn giáo dục tín đồ, các cấp Acār hầu như không có gì giảng cả! Các vị nói Takhāt siam lô: bố thí tốt lắm… Và chỉ có thế.
Thực sự Cham không có gì để thuyết giảng sao?
Nền giáo dục Cham từ sau Champa tan rã – hay ít ra từ sau 75 – hoàn toàn đứt mạch. Dạy dỗ con cái, ta phó công việc một đời người này vào tay Nhà nước. Trường học XHCN thế nào ta đã biết, giáo dục gia đình thì không còn, hệ quả thế hệ con cái ta gánh chịu…
Vậy đâu là nền giáo dục truyền thống Cham?

Cham quan niệm trách nhiệm giáo dục quần chúng thuộc về giáo sĩ và nhà thơ, thế nên không ít tác phẩm mang xu hướng “chở đạo”: Ariya Glang Anak hay Poh Catôi chẳng hạn. Văn học dân gian, ta cũng có lối giáo huấn rất đặc thù, không phải là không hiệu quả. Nhưng phải đợi đến các Ariya Pato Adat ra đời, người Cham mới nhận được một nền giáo dục có hệ thống, có quy củ về luân lí, đạo đức. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Đỗ Tấn Thảo: 2 bài thơ

LÁ ƠI

Hắn nhẹ nhàng gác mái dầm
Săm se chiếc thuyền thúng đã củ
Bờ cát trắng ngày cuối đông
Ngày bão đêm giông con cá con mực ru hời
Bữa tươm tất chút nắng trời dong về phố thị
Cơn nắng hanh hao trên đường quê hương hờn tủi Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)