Văn hóa làm cho cuộc sống có thể chịu đựng được. Làm người trần thế nào có vui vẻ gì? Tất cả chúng ta đều phải đối mặt với bệnh ung thư, với stress, với sợ hãi; ngày nào cũng đối diện với cảnh tang tóc, và không gì đáng sợ hơn. Continue reading
Category Archives: Văn chương & Tư tưởng
Văn chương & Tư tưởng II-114
– Đôi khi anh thèm được như Chế Khan. Tôi nói khi Hà Vân đang khúc Ngã Tư Bảy Hiền chợt quẹo qua đường Lý Thường Kiệt. Khác mấy lần ra Hà Nội, ở Sàigòn tôi hiếm khi được hân hạnh ngồi yên sau mà người cầm lái là phụ nữ.
– Anh thường về mấy giờ, J’Man? Continue reading
Văn chương & Tư tưởng III-120
Thạch Phá Thiên được Sử Tiểu Thúy nhận là “khai sơn đồ đệ” để chuẩn bị cho cuộc đấu với Bạch Vạn Kiếm, vừa là con trai bà vừa là nhạc phụ tương lai của Thạch Phá Thiên. Đó là một cuộc “tranh luận” không khoan nhượng về võ công để bảo vệ cái danh. Thua thì thanh danh tàn tạ, còn thắng thì được huênh hoang với đời. A Tú đã khéo léo dạy cho Thạch Phá Thiên chiêu “Bàng xao trắc kích” để vừa bảo vệ được mình lại vừa cứu vãn được danh dự cho đối phương. “Bàng xao trắc kích” có nghĩa là “đẩy bên cạnh, đánh bên hông”. Continue reading
Văn chương & Tư tưởng III-125
Một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử: châu Âu từng có cuộc dịch thuật vĩ đại thế kỷ 11 và 12 lúc đại học châu Âu ra đời để làm nền tảng phát triển khoa học và văn hóa, thì tương tự ở phương Đông, Nhật Bản cũng đã có cuộc dịch thuật vĩ đại của mình trong hai thế kỷ thời đóng cửa, giúp chuyển hệ hình tư duy kiểu phong kiến Trung Hoa sang hệ hình khoa học hiện đại phương Tây. Cuộc dịch thuật là khó nhọc và không kém phần nguy hiểm, nhưng trí thức Nhật Bản đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của mình đối với quốc gia, rằng họ không thể yêu nước trong sự vô minh. Continue reading
Văn chương & Tư tưởng III-121
Người Việt mình nó thế. Mỗi người một cõi thì ai cũng sáng như sao, ngồi chung lại với nhau bỗng tối như nhà tắt đèn, chia rẽ và phức tạp lắm. Người thông minh thì ắt nghi ngờ tất cả những gì mang tính đại đoàn kết hữu danh vô thực. Người chính trực ắt nghi ngờ những bình phong tập thể che chắn mưu đồ cá nhân. Người có tầm vóc ngại hòa mình vào đám đông. Người có uy tín ngại bị phong trào lợi dụng. Người có suy nghĩ chán sự tầm phào của những cuộc vận động quần chúng. Người nhạy cảm ghét ngồi chung toa với những kẻ không cùng tần số phát sóng. Người có lí tưởng sợ một lần nữa gửi nhầm vào địa chỉ ảo tưởng. Đến người không có gì hết cũng sợ, sợ mình chẳng được gì hết. Ai cũng nghi ngờ một cái gì đó, chán ghét một cái gì đó, ngại một cái gì đó, sợ một cái gì đó từ liên minh với người khác.
Phạm Thị Hoài, Blog Pro&Contra
Văn chương & Tư tưởng III-124
Picasso, chẳng hạn, đã tạo nên các tác phẩm của một đại thiên tài, và người ta hỏi ông lấy cảm hứng từ đâu. Ông trả lời rằng ông đã phải lao động chăm chỉ 8 – 9 giờ liền trước khi cảm hứng đến với ông. Tôi đã không tình cờ mà có ngày hôm nay. Tôi luôn chăm chỉ lao động. Khi tôi còn học trong trường nhạc, tôi nghèo kiết xác mà phải thu xếp để ăn đủ mỗi ngày ba bữa. Người ta hỏi về tiền bạc của tôi. Ngày nay người ta muốn thành công ngay lập tức — họ không hề quan tâm tới việc bạn đã đạt được thành công đó như thế nào.
Ivo Pogorelich, Nguyễn Đình Đăng dịch
Văn chương & Tư tưởng II-53
Văn chương & Tư tưởng II-107
Hôm nay tin đồn lan sang tôi. Mẹ gọi tôi hỏi nhỏ con làm gì đó ở Bai Gaur được giải thưởng có cả đăng báo còn lên tivi nữa làng xóm người ta nói quá đi nói quá không tốt đâu con ông bà ta bảo sống có người có ta, tôi giải thích mãi rằng không sao đâu mẹ, con viết sách cho con nít học thôi mẹ mới ngủ ngon. Ông chú triết gia của tôi thì bảo thẳng tao đồng ý là mày dám đi vào biển cả, đang giữa biển cả dù chỉ mình mầy chèo chống. Chớ trông vào tiếng vỗ tay hoan hô từ tao Continue reading
Văn chương & Tư tưởng II-50
Văn chương & Tư tưởng III-119
Tính liên-văn hóa (Interculturality): yêu cầu của thời đại
Liên-văn hóa, như một môn học, được xét ở bốn viễn tượng: triết học, tôn giáo, chính trị và giáo dục.
• trong viễn tượng triết học, liên-văn hóa là một thái độ, một tinh thần và một sự thức nhận rằng mọi thành tựu của tư tưởng nhân loại đều là những biến thái của một philosophia perennis (“triết học vĩnh cửu”), trong đó sự tương đồng giữa các câu hỏi quan trọng hơn sự dị biệt giữa các câu trả lời, từ đó ngăn chặn việc biến một truyền thống hay một hình thái triết học nhất định thành hình thái tuyệt đối như là định nghĩa duy nhất cho chân lý triết học. Với nhận thức ấy, có lẽ đã đến lúc cần phải viết lại một bộ lịch sử tư tưởng, – và nói riêng, một lịch sử triết học – của nhân loại. Continue reading




