Jaya Bahasa: KATÊ NÀY CÓ GÌ VUI KHÔNG EM?

Trời thu những cơn mưa đầu thu không se lạnh nhưng đủ để làm ướt áo và tưới mát những thớ đất khô cằn của vùng đất nắng. Katê năm nay, biết bao nhiêu sự kiện lớn trôi qua. Dòng tộc Mabek định cư ở Palei Hamu Tanran – làng Hữu Đức tiễn đưa Klaong về quê mẹ Palei Mabek ở Vụ Bổn để làm lễ nhập Kut. Trong số 39 Klaong được trở về nằm trong lòng đất mẹ, có Klaong của cụ Thiên Sanh Cảnh. Người Chăm còn gọi cụ bằng cái tên thân thương khác là cụ Đề. Bởi vì, cụ từng làm thư ký cho quan huyện thời Pháp. Ai cũng trân trọng về những đóng góp tích cực của cụ cho văn hóa Chăm. Sinh thời cụ là thầy giáo làng, năm 1969 linh mục người Pháp là ông Gérard Moussay thành lập Trung tâm Văn hóa Chàm Phan Rang mời cụ đến cộng tác nghiên cứu, dịch thuật tiếng Chăm. Về sau, cụ còn hợp tác với David Blood và các cộng sự của Viện Ngôn ngữ Mùa hè của Hoa Kỳ tham gia biên soạn sách khoa học thường thức bằng tiếng Chăm và các tài liệu hỗ trợ việc học tiếng Chăm. Bên cạnh đó, cụ còn là một trong những sáng lập viên của Nội san Panrang. Nội san được xem như là tiếng nói của cộng đồng sắc tộc Chàm Ninh Thuận lúc bấy giờ. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +1 (from 1 vote)

Jaya Bahasa: Mối quan hệ Chăm và Raglai qua lễ hội Katê

Lễ hội Katê là một trong những công lễ lớn và quan trọng của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Lễ hội Katê được tổ chức hằng năm vào đầu tháng 7 theo lịch của người Chăm (khoảng cuối tháng 9 và đầu tháng 10 Dương lịch) có sự tham gia đông đảo của dân làng tham gia hành lễ. Tính chất đặc biệt của lễ hội Katê là sự xuất hiện của tộc người Raglai cùng với người Chăm thực hành cúng lễ và trình diễn nghệ thuật. Lễ hội Katê diễn ra ở trên đền tháp, ở làng và các gia đình. Nhằm mục đích tưởng niệm các vị nam thần, anh hùng của dân tộc được thần linh hoá và tổ tiên. Đồng thời, đây là dịp thắt chặt thêm tình cảm anh em Chăm và Raglai ngày càng gắn kết sâu đậm để cho mối quan hệ Chăm và Raglai mãi mãi trường tồn cùng với lễ hội Katê truyền thống.
Thành ngữ của người Chăm có câu nói: “Chăm sa-ai Raglai adei”. Nghĩa là người Chăm là người chị cả còn người Raglai con gái út trong gia đình. Theo quy định của luật tục, người con gái út trong gia đình có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ để lại và thực hiện nghĩa vụ chăm sóc và thờ phượng cha mẹ khi về già. Cho nên, từ xa xưa người Raglai được giao vai trò đảm trách việc bảo quản y trang của vua chúa và các đồ cúng lễ trên đền tháp để thờ phượng ông bà, tổ tiên và thần linh. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (6 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: +6 (from 6 votes)

Jaya Bahasa: ĐIỂM LUẬN TAGALAU 19

Chưa bao giờ giới truyền thông quan tâm đưa tin về hạn hán nhiều như hiện nay. Nhưng, nắng hạn đâu phải là chuyện mới mẻ gì ở vùng đất Panduranga. Từ lâu đời, người Chăm đã gắn cuộc sống của mình với vùng đất khát nước. Ai đó còn ban tặng cho danh từ mĩ miều nói rằng Phan Rang là xứ Hoa Nắng. Ngay trong lời mở đầu của Tagalau 18 chưa đầy 4 trang mà các từ vựng chỉ về nóng, nắng, khô hạn liên tục được lập đi lập lại để nói về sự chịu đựng cằn cội kiên cường của một loại cây mọc trên vùng đất nắng vẫn chớm nở hoa đúng hẹn. Đó là loài hoa Tagalau.

Thật vậy, đi qua 16 năm (2000-2016), Tuyển tập Tagalau đã nở hoa làm đẹp cho cuộc đời, hồi sinh các giá trị văn hoá tinh thần, hình thành nên một lực lượng sáng tác văn học nghệ thuật dồi dào là một thành tựu lớn trên diễn đàn sân chơi Tagalau. Những bài viết khảo tả, bài nghiên cứu, các chuyên mục sưu tầm văn học, văn hoá dân gian đã đưa văn hoá Chăm đến gần gũi hơn với bạn đọc cả nước. Qua đó, tạo dựng được kênh giao lưu, đối thoại văn hoá góp phần bảo tồn và gìn giữ bản sắc văn hoá Chăm. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Vấn đề Po Riyak. bài 6- Jaya Bahasa: VĂN HOÁ BIỂN CỦA NGƯỜI CHĂM

Ong Ka-ing mua cheo thuyen[Múa chèo thuyền trong lễ Rija Nâgar, Photo Jaya Bahasa.]
Xưa kia địa bàn cư trú của người Chăm trải dài từ Bắc Trung bộ đến Biên Hoà, phía Tây giáp với dãy Trường Sơn Tây Nguyên, phía Đông tiếp giáp với biển cả mênh mông. Nằm trên tuyến đường giao thông hằng hải của khu vực Đông Nam Á, người Chăm sớm tiếp xúc với thế giới bên ngoài và làm chủ được vùng biển đông rộng lớn thông qua trao đổi thương mại và giao lưu văn hoá. Các thương thuyền nước ngoài thường ghé vào cảng Champa để mua hương liệu, sản vật địa phương và nước ngọt. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Vấn đề Po Riyak. bài 5. Jaya Bahasa: TRUYỆN KỂ VỀ PO RIYAK: VỊ THẦN SÓNG BIỂN CỦA NGƯỜI CHĂM

Truyện kể rằng Po Riyak sinh ra và lớn lên ở làng Aia Dak ở khu phố Chăm huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận ngày nay. Từ nhỏ, Po Riyak đã thể hiện tố chất lanh lợi so với bạn bè cùng trang lứa. Là đứa con lễ phép và hiếu thảo với cha mẹ nhưng Po Riyak lại ít làm các công việc ở gia đình. Po Riyak có ý thức về học vấn nên đã sớm rời xa quê hương đi tìm thầy để học về đạo lý làm người. Điểm dừng chân của Po Riyak là thánh địa Mưkah của đất nước Ả Rập. Ở đó, có thánh đường Hồi giáo Mưkah do các Po Nưbi cai quản. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Jaya Bahasa: TRUYỆN KỂ VỀ YANG PATAO

Ngày xưa khi mới hình thành trái đất và sự sống đất nước người Chăm có nhiều nhân tài. Nhưng xứ sở vẫn chưa có người làm vua. Từ lúc, Patao Rat Bin Thuer từ nước Jawa đến sinh sống trên một hòn đảo giữa đại dương cách xa đất liền nên chẳng mấy ai đến đó được. Ban đầu, Patao Rat Bin Thuer cũng chỉ là hạng thường dân thôi. Nhưng, khi đến đất nước người Chăm nó lại đòi lên làm vua.

Po Kei Glaong hỏi Patao Rat Bin Thuer: Anh làm vua nước Chăm thì thần dân sẽ nộp thuế và triều cống cho anh như thế nào đây ?
Patao Rat Bin Thuer trả lời: hàng năm hãy tiến cung cho ta một người mỹ nữ.
Nghe vậy, Po Kei Glaong không đồng ý. Nhưng, nếu không thực hiện thì Patao Rat Bin Thuer sẽ gây chiến.
Po Kei Glaong nói lại với Patao Rat Bin Thuer: Bây giờ tôi với anh đánh nhau, nếu anh thắng tôi thì anh sẽ lên làm vua nước Chăm. Hằng năm, tôi chấp nhận triều cống một người thiếu nữ xinh đẹp theo đòi hỏi của anh. Còn nếu như anh thua thì anh phải quay trở về nước Jawa. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Jaya Bahasa: TRUYỆN KỂ VỀ PO KATHIK DHIK

Po Kathik Dhik có tên gọi khác là Po Anit. Trong dân gian gọi như thế vì ông quá si mê yêu thương công chúa nước Jek. Vào năm con Thỏ, ông lên ngôi vua ở kinh đô Prang Darang. Lúc đó, khi đến cuối năm thì người Chăm phải đóng sưu thuế cho vua nước Jek. Po Jai Paran là em ruột của Po Kathik Dhik con của Po Klaong Haluw. Hai anh em cảm thấy dân tình nghèo khổ hàng năm đến kỳ đóng thuế nặng nề cho nước Jek. Bao nhiêu tài sản quý đều ra đi, chống lại thì cũng chẳng nổi.

Một hôm, nửa đêm khuya Po Jai Paran thèm thuốc lá ông có thói quen hút thuốc bằng tẩu. Nên, ông sai người hầu đi mồi lửa để hút thuốc. Người hầu mang tới một cục than lửa đang cháy đỏ hồng. Po Jai Paran cầm chiếc tẩu thuốc châm lửa mãi cũng không cháy điếu thuốc. Mặc dù, than lửa vẫn còn cháy. Hút thuốc không được, ông cầm thuốc rê bỏ vào miệng và nuốt vô bụng luôn. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 9.0/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Jaya Bahasa: TRUYỆN KỂ VỀ JARO DUEN

Người xưa kể lại rằng, Po Bargina, Po Nâbi Jawét và Po Nâbi Sulei Man làm việc ở trên thiên giới cai quản chúng sinh. Đầu tiên, 3 vị có sáng tạo ra một người tên là Jaro Duen để giúp việc cho mình. Theo thời gian, Jaro Duen đã thành thạo các công việc được giao phó. Po Uw Aluah truyền lệnh cho Po Bargina mang linh hồn cho muôn loài trên trái đất như con người, con trâu, con cọp, con rắn, con voi, con nai, con heo, con chuột, sâu bọ, để được bất tử.
Đầu tiên, Po Bargina trao linh hồn bất tử cho Po Nâbi Jawét và Po Nâbi Sulei Man mang linh hồn đi nhưng cả 2 vị đều không dám nhận. Cho nên, Po Bargina gọi người bầy tôi của mình là Jaro đến hỏi.
Po Bargina nói với Jaro: con mang linh hồn đi cho muôn loài được không?
Jaro đáp lại: Tất cả, mọi công việc ở trên trời thần đều đảm nhận được. Huống chi, việc mang linh hồn cho thế gian mà thần không làm được hay sao! Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 5.5/10 (2 votes cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Jaya Bahasa: TRUYỆN KỂ VỀ PO HALUW AIA VÀ PO YANG IN

Ngày xưa, Po Haluw Aia và Po Kabai kết nghĩa bạn bè chơi thân với nhau. Hai người thường xuyên rủ nhau đi săn bắt thú rừng. Đi săn ở đâu cũng rủ nhau và thường hẹn gặp nhau tại núi Jer để chia thịt săn được mỗi người một phần mang về nhà. Po Haluw Aia thì ở tại đầu nguồn nước trên núi Ja Mbaong thuộc xứ Atain. Còn Po Kabai thì ở trên núi War Kubaw thuộc các làng Tanran, Bingu. Từ núi Waong đến núi Kubaw Linga cũng nhìn thấy nhau. Po Haluw Aia có bàn bạc với Po Kabai khi nào thuận tiện sẽ làm một cái chòi trồng bông tại cánh đồng Hamu Phaw cho gần nhau. Nghe lời bạn, Po Haluw Aia chuyển đến ở tại Hamu Phaw. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)

Jaya Bahasa: TRUYỆN KỂ VỀ NGƯỜI NHẬT BẢN, PHÁP VÀ VIỆT MINH

Vào những năm đầu thế kỉ XX những ghi chép về làng quê Chăm bằng văn bản Akhar Thrah rất hiếm thấy. Nếu như văn bản Ariya Po Pareng cung cấp những thông tin thú vị về cuộc hành trình một nhóm người Chăm đi tìm kiếm, nghiên cứu và sưu tầm hiện vật thuộc nền văn minh Champa ở khắp miền Trung Việt Nam thì văn bản dưới đây là một sử ký ghi nhận những sự kiện đã từng xảy ra ở các làng Chăm và Raglai thuộc tỉnh Ninh Thuận. Tư liệu phản ánh bối cảnh xã hội Chăm thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với sự xuất hiện của các lực lượng quân sự Pháp, Nhật và Việt Minh. Nguồn tư liệu này, do ông Quảng Văn Đại ở thôn Chất Thường, xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận sưu tầm và lưu trữ. Nội dung chính của sử ký gồm có 32 trang, viết trên giấy gió, mực Tàu, không có ghi tên tựa đề và tác giả.
Xin chân thành cảm ơn ông Quảng Văn Đại đã hiệu đính phần chữ Chăm và nghĩa tiếng Việt, ông Bá Văn Thứ ở thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước đã tham gia đọc văn bản tiếng Chăm, giải thích những địa danh và sự kiện lịch sử. Trong phần dịch sang tiếng Việt, chúng tôi cố gắng dịch đúng với văn phong tiếng Chăm mà vẫn đảm bảo sự trong sáng nghĩa tiếng Việt, những đoạn chữ Chăm bị mờ, mất nét hoặc không đọc được sẽ được để thành 3 dấu chấm […]. Continue reading

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 9.0/10 (1 vote cast)
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0 (from 0 votes)