1. Nghề trồng và các loại lúa nước
Người Cham biết trồng lúa rất sớm với các công trình đập nước dẫn thủy nhập điền còn tồn tại đến ngày nay, trong đó Đập Nha Trinh thế kỉ XII và Đập Ma-rên thế kỉ XVII ở Ninh Thuận khá nổi tiếng. Bi kí trên tháp Pô Klong Girai thế kỉ XIII đã kể rất chi li tên sông, đập, đồng lúa Pangdurangga [gồm Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay] là minh chứng hùng hồn nhất.
Ở Cham, có nhiều loại lúa được biết đến, như: Padai ia pa-ôic, Padai ia parak: lúa Bà-rịa, Padai ia patau, Padai kađung: lúa cà-đung, Padai halim: lúa mùa, Padai cangrit: tên một loại lúa (mùa), Padai Kuprok, Padai bhông: lúa ngự, Padai arek: lúa ngắn ngày… đặc biệt là từ Padai barêng được biết đến qua thuật ngữ: “lúa chiêm”.
Lúa Chiêm
Từ điển Nguyễn Như Ý định nghĩa “chiêm” là (lúa hay hoa màu) cấy trồng vào tháng 10 tháng 11, gặt hái vào tháng 5, tháng 6. Các từ điển Nguyễn Kim Thản, Hoàng Phê về cơ bản cũng định nghĩa như vậy. Tiếng Anh dịch là fifth-month rice hoặc summer rice. Chỉ có Lê Văn Đức nhắc việc gạo chiêm, lúa chiêm là do giống của Chiêm Thành. Từ “chiêm” viết thường khiến người ta khó liên hệ gạo chiêm với nước Chiêm:
Mẹ đần lại đẻ con đần
Gạo chiêm đem giã mấy lần vẫn chiêm
Tôi biết nhiều người học xong phổ thông vẫn không biết nước Chiêm là nước nào, thành thử vẫn ăn gạo chiêm mà không biết nó từ đâu đến (Blog Đặng Thái Minh).
Giống lúa Đạo còn gọi là lúa Tiên hay lúa Chiêm. Lê Quý Đôn viết:
“… còn lúa cái hạ bạch thì mãi đến đời Chân Tông (998-1022) nhà Tống mới sai sứ sang Chiêm thành lấy 3 vạn hộc lúa đạo đem về phân phối cho các đạo (các tỉnh) nên mới có giống lúa ấy.” Lúa Chiêm có nhiều loại giống: Lúa Tiên tử hay còn gọi là Hồng liên có hạt thóc to, lòng đỏ, trấu cũng đỏ. Gạo hạt nhỏ, trắng, cấy tháng 4 gặt tháng 6 gọi giống lúa cấy “ 60 ngày”. Gạo đỏ chín muộn hơn gọi là lúa cấy “80 ngày”. Lại có giống muộn hơn nữa gọi là lúa cấy “100 ngày” (Bùi Huy Đáp, 1980).
Như vậy, lúa Chiêm có vài giống khác nhau.
Có câu ca dao khác về lúa Chiêm:
Lúa Chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.
“Theo Lê Quý Đôn, [lúa Chiêm] được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ 10. Có nhiều loại lúa từ Chiêm Thành đã được mang vào Trung quốc như lúa tẻ có lông, lúa tẻ chín sớm (lúa tiên), lúa tiễn tử (lúa 60 ngày, lúa chín trễ hơn gọi là lúa 80 ngày, lúa 100 ngày). Lúa Chiêm từ Việt Nam đã lan qua Trung quốc tạo nên một cuộc cách mạng kinh tế lớn lao. Có thể so sánh đây là cuộc cách mạng xanh (green revolution) đầu tiên trước cuộc cách mạng xanh sau này ở thế kỷ 20.
Vua Tống Chân Tông (998-1022) đã mang lúa Chiêm vào Trung Quốc, sau này đã được áp dụng khắp nơi ở Nam Trung quốc, người Trung quốc gọi loại lúa này là “lúa tiên”. Lúa Chiêm Thành, theo sử Trung quốc, được nhà Tống mang áp dụng vào đầu thế kỷ 11, bắt đầu từ tỉnh Phúc Kiến, mang đến Triết Giang để cấy trồng sau những vụ mất mùa do hạn hán và để tăng thêm thu hoạch. Lúa Chiêm Thành tăng trưởng và chín rất nhanh nên có thể trồng được hai vụ lúa trong năm. Năng xuất vì thế rất cao. Đến thời nhà Minh thì các tỉnh phía nam sông Dương Tử từ Triết Giang, Phúc Kiến đến Hải Nam đều dùng lúa Chiêm Thành. Cuộc cách mạng sản xuất nông nghiệp đã đưa đến sự tăng trưởng nhanh chóng về dân số và kinh tế với sự bành trướng và xuất hiện của các trung tâm đô thị mới. Người Trung quốc còn gọi lúa Chiêm Thành là lúa do trời ban cho (lúa tiên).
Đại Việt và Trung quốc lớn mạnh cũng một phần do sự phát triển nông nghiệp qua lúa Chiêm”.
(Nguyễn Đức Hiệp, “Lâm Ấp, Champa và di sản”, Vanchuongviet.org, 7-6-2006).
Ở Cham, lúa Chiêm tiếng Cham là padai barêng (người Việt địa phương gọi theo âm Cham là lúa “bà rên”) là loại lúa ngắn ngày nhất: 90 ngày thì thu hoạch. Khác với lúa ba trăng, dù mang tiếng là “3 tháng”, nhưng phải đến 100 ngày mới có thể thu hoạch. Lúa bà rên hạt nhỏ, vỏ màu đen; giã ra hạt gạo cũng màu đen; không đong thóc (năng suất kém), được điều là cơm ăn rất ngon, nhất là khi dùng nồi gốm Bàu Trúc nấu. Gia đình tôi nhiều mùa gieo loại giống lúa này. Khoảng đầu thập niên 1970, gần như nó biến mất hẳn ở Ninh Thuận.
2. Lễ hội liên quan đến nông nghiệp.
Nghề trồng lúa nước của Cham còn để lại dấu ấn đậm nét trong tín ngưỡng và lễ nghi liên quan đến nông nghiệp. Có thể kể đến 4 lễ nghi lớn mang tính toàn khu vực Pangdurangga, là:
Palao Paxah, Pakap Halau Krong, Yôr Yang, Ngap Kabao Yang Patao
Cây lúa có vai trò quan trọng không chỉ trong nền kinh tế truyền thống Cham, mà cả trong sinh hoạt tâm linh của dân tộc này qua các lễ nghi liên quan đến cây lúa. Từ lễ cúng trước và trong thời kì làm đất, qua giai đoạn sinh trưởng, cho đến khi khi vào trong kho gia đình, có hơn chục nghi lễ lớn nhỏ diễn ra.
Hệ thống thần linh được mời “dự lễ” bao gồm rất nhiều Yang: Yang Bimông Yang Kalan (Thần Tháp), Yang Birau (Thần Mới), Pô Bhum (Thần Đất) các dạng.
Trước tiên là Lễ cũng đập nước (Patrun jađun hatam) được tổ chức sau lễ Yôr Yang trên tháp; lễ do Ông Banơk (Cai Đập) phụ trách. Tiếp đến là Lễ Tẩy uế đất (Talak bala tanưh) cũng do Ông Banơk làm chủ lễ.
Lễ xuống cày (Trun li-ua) do Ông Hamu ia làm chủ lễ. Lễ thực hiện vào tháng Tư lịch Cham, tục ngữ: Pataw trun Li-ua, bia trun hatơm: Nhà vua xuống cày, hoàng hậu xuống cấy.
Cúng dựng chòi (Padang Dai tuan), sau đó là Cúng cày trộm (Klek li-ua) được thực hiện ở đám ruộng được cho là ruông kị (hamu tanro) khoảng 4-5 đường cày. Ở hai nghi thức này Ông Kadhar cũng tham gia làm lễ.
Sau lần Cúng gieo sạ là các lễ cúng trong thời kì chăm sóc cây lúa, có: Lễ mừng lúa con (hay Cúng Thần Đất Êw Pô Bhum), cúng lúa làm đòng (Padai đôk tian), cúng đuổi chuột (Tiaup takuh).
Cuối cùng là các lễ nghi trong thời kì thu hoạch. Gồm: Lễ cúng gặt (Yuak mưk harei), lễ khai sân đạp (Tagôk lan), lễ ăn cơm mời đón lúa đầu vụ (Huak padai da-a), và sau rốt là lễ cúng bẻ bông (Yang Yom phôl) để tỏ lòng biết ơn Thần Yang cho mưa thuận gió hòa để lúa về đầy kho, dân lành no ấm (theo Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm Ninh Thuận: 2010, 96-187).
3. Tên gọi và cộng cụ sản xuất liên quan đến cây lúa
Đồng lúa: tanran hamu
Đám ruộng: alok hamu
Đám ruộng vừa: alok dam
Đám ruộng nhỏ: xuet
Ruộng lệ: Hamu tanro, hamu pađôk
Ruộng độc: Hamu tabung
Hamu bilau: ruộng hoang
Hamu klak bilau: ruộng bỏ hoang
Hamu bhum kabao awal: Ruộng sâu trâu chuồng
Đong lúa thì dùng jak hay “thước đo lúa” như nay vẫn coi thông dụng ở Đông dương (G. Maspéro, Le Royaume du Champa, Van Dest, Paris, 1928, p. 34).
Ngày nay, người Cham đo nông sản bằng jak (giạ = 15kg), đo lúa giống gieo có thêm đơn vị pôt (mủng), li-i (thúng). Ví dụ người ta nói, ngâm 2 jak và 1 pôt để gieo đám ruộng đó; vùng ruộng kia cần đến 1 rideh pajeh (1 xe thóc giống). Hay 1 xe trâu lúa = 750kg, còn 2 xe trâu lúa = 1.500kg = tha tôn padai.
P.S.
GẠO CHIÊM LÀ GÌ?
Từ điển Nguyễn Như Ý (1999:355) định nghĩa chiêm là (lúa hay hoa màu) cấy trồng vào tháng 10 tháng 11, gặt hái vào tháng 5 tháng 6. Các từ điển Nguyễn Kim Thản (2005:292), Hoàng Phê (2006:156) về cơ bản cũng định nghĩa như vậy. Tiếng Anh dịch là fifth-month rice hoặc summer rice. Chỉ có Lê Văn Đức (1970a:300) nhắc việc gạo chiêm, lúa chiêm là do giống của Chiêm Thành. Từ chiêm viết thường khiến người ta khó liên hệ gạo chiêm với nước Chiêm:
Mẹ đần lại đẻ con đần
Gạo chiêm đem giã mấy lần vẫn chiêm
Nhiều người học xong phổ thông vẫn không biết nước Chiêm là nước nào, thành thử vẫn ăn gạo chiêm mà không biết nó từ đâu đến.
(chép lại từ Blog Đặng Thái Minh)
Chú thích của Inrasara:
Lúa Chiêm tiếng Cham là padai bareng (người Việt địa phương gọi là lúa Bà rên) là loại lúa ngắn ngày nhất: 90 ngày thì thu hoạch. Khác với lúa Ba trăng, dù mang tiếng là “3 tháng”, nhưng phải đến 100 ngày mới có thể gặt được. Lúa Bà rên hạt nhỏ, vỏ màu đen; giã ra hạt gạo cũng màu đen; không đong thóc (năng suất kém), được điều là cơm ăn rất ngon, nhất là khi dùng nồi gốm Bàu Trúc nấu. Gia đình tôi nhiều mùa gieo loại giống lúa này. Khoảng đầu thập niên 70, gần như nó mất hẳn ở quê tôi – Ninh Thuận.

Xin lỗi, cháu tên gì nhỉ? Sara chưa thấy tiền hiện trong tài khoản. Mong vui!
Chảu chuyển vào đây hé, Karun nhiều! PHÚ TRẠM, Ngân hàng ACB - TP Hồ Chí Minh Chi nhánh Cộng…
Cháu chào nhà thơ. Cháu muốn đóng góp một chút cho thư viện và kênh YouTube vì cháu rất xúc…
Phá vỡ để sáng tạo và minh triết hơn 👍
Karun @Baductoai!