Simone Weil là khuôn mặt đẹp nhất trong thế giới tư tưởng nhân loại thế kỉ XX. 17 tuổi, tôi treo chân dung bà lên tường sau lưng bàn viết, để mỗi lần ngoái lại, ánh mắt bà luôn có đó. Cùng 2 câu thơ Huy Cận:

Và cổ đứng như mình cây vững chải

Và vai ngang như mặt nước xuôi dài.

Simone Weil chính là cái ĐẸP viết hoa. Cái Đẹp – như cách nói của bà – là một hình thức mặc khải. Trước cái đẹp, ta dừng lại, ta quên tất cả, quên cả cái tôi của mình. Ở đó chỉ có ta với Thiêng tính.

Hãy nhớ lại bài thơ “Bông thược dược” của Quách Thoại.

Hôm qua, anh bạn từ Pháp hỏi tôi nghĩ gì về Simone Weil, Inrasara có thể cho vài ghi chú về bà được không. Tôi nói, hay lắm. Chính bà đã gợi mở cho tôi nhiều thứ, dù sau tuổi 20 tôi không còn đọc bà nữa, nhưng bàn chân tôi hơn nửa đời hư dường giẫm lên dấu vết Simone Weil vừa đi qua. Lạ không!?

KÍ ỨC, tôi viết: “Nhà văn là kẻ lưu giữ kí ức dân tộc, và kể lại chúng ra thế giới bên ngoài” – được gợi hứng từ bà.

Nữa, LỊCH SỬ – không phải lịch sử hàn lâm sách vở, mà là vô số mảnh “ngoại sử” tồn tại sống động trong kí ức cộng đồng.

TRUYỀN THỐNG cũng không khác. Không phải thứ truyền thống khô cứng được chưng cất nơi viện bảo tàng, mà là truyền thống đang thở hơi thở đời thường.

CỘNG ĐỒNG, như Weil, tôi là kẻ nhập cuộc chính hiệu, thương cảm sự “khốn cùng” [malheur] của bộ phận sinh linh dưới đáy này. Và lên tiếng.   

Cuối cùng là NGÔN NGỮ, đời tôi gần như gắn chặt với tiếng Cham.

Đó chính là QUÊ HƯƠNG – từ tôi hay dùng, mà hàm nghĩa lần nữa được gợi mở bởi Simone Weil và Heidegger!

(L’Enracinement, 1943)

Mất gốc, bật rễ khỏi Quê hương, con người hiện đại thành vô gia cư, lang thang và lang thang.

“Nỗi thiếu Quê hương trở thành định mệnh của thế giới. Chính vì thế, sự thiếu vắng đó cần phải được suy tư trên bình diện lịch sử của Tính thể. Như vậy, điều mà khởi từ Hegel, Marx đã truy nhận theo một nghĩa tinh yếu và quan trọng như là sự vong thân của con người, điều ấy cắm rễ thật sâu trong nỗi thiếu Quê hương chung của con người thời hiện đại”. (Homelessness is coming to be the destiny of the world. Hence it is necessary to think that destiny in term of the history of Being. What Marx recognized in an essential and significant sense, though derived from Hegel, as the estrangement of man has its roots in the homelessness of modern man). (M. Heidegger, Letter on Humanism, bản dịch của Frank A.Capuzzi, trong Basic Writings, Harper San Francisco, USA, 1977, p. 219).

+

Simone Weil (1909-1943)

sinh tại Paris trong gia đình Do Thái trí thức.

Khác với phần đông triết gia ru rú tháp ngà, Weil luôn sống điều mình nghĩ. Đang dạy triết, bà xin vào làm công nhân trong các nhà máy.

Năm 1936, sang Tây Ban Nha tham gia lực lượng Cộng hòa trong Nội chiến, rồi nhanh chóng rời mặt trận vì thất vọng trước bạo lực từ cả hai phía.

Thế chiến II, Weil theo Chính phủ Pháp lưu vong sang Anh. Do tự nguyện hạn chế khẩu phần ăn cộng với bệnh lao, bà qua đời tại Anh năm 1943 khi mới 34 tuổi.

Nhiều tác phẩm Simone Weil được xuất bản sau khi bà mất. Dẫu vậy bà được xem là một trong những tiếng nói triết học và tâm linh có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX.