“Bạn không nhìn thấy cái gì đó, không phải nó không có” – Inrasara!
Lạ lắm, tôi vừa biết có người kêu Cham không có chữ ‘xalam’ (chào)! Người có học đàng hoàng chớ chẳng đùa. Như trước đây…
[1] Có bạn kêu Cham không có chữ ‘karun’ “cảm ơn”. Chuyện dài tập, từ thời Ban Biên soạn, các bác ở Ban chưa dùng, mãi khi tôi vào, đưa ra đủ đầy tang chứng, Ngữ văn Cham mới có ‘karun’ từ đó [đã kể].
[2] Cũng có nhà nghiên cứu kêu Cham không có “họ”, như ‘Inra, Cri, Putra…’. Lạ chớ, cứ muốn làm khác Sara để tỏ vẻ mình hiểu, trong khi mình sai mà chả thèm biết luôn.
[3] Thêm vài nhà, cái gì cũng A thay vì Ư, như ‘nưgar’ cứ viết ‘nagar’. Cho nó sang, cho nó cao đẳng. Truyền thống hơn cả Từ điển Moussay (1971), cả Aymonier (1906), chớ gì Bùi Khánh Thế với Ban Biên soạn!
Moussay viết mỗi ‘nưgar’, Aymonier viết ‘nưgar’ còn [nagar] ông cất trong ngoặc vuông.
[4] Nữa, xuất hiện nhà thơ với hai nhà nghiên cứu – để chống Sara, hô là tiếng Cham ‘nao ikak’ không có nghĩa “đi buôn”. Tôi chỉ ra 2 chỗ: Truyện cổ “Nao ikak hala”: “Đi buôn trầu”, và tục ngữ ‘Nao ikak nao ke, mưtai yêr le tuh thre ka gaup’, nói có sách, mà sách ấy tận “truyền thống” ông bà xa xưa hẳn hoi, nhưng cãi vẫn cứ… cãi!
[5] Hôm nay là CHÀO. Để chỉ vài thao tác:
“Lạy”, Cham có chữ ‘kakuh’. Thêm thao tác khác là: “khôy kakuh’: quỳ gối lạy.
“Lạy” rạp người xuống là: ‘Talabat’ hay ‘Jabat’. Lạy chào đầy thành kính có: ‘Jabat xalam’.
“Chào” là: ‘Xalam’/ ‘Xulam’/ ‘Ssalam’/ ‘Salam’ tùy cách viết. ‘Xalam’ phát xuất từ tiếng Ả Rập: “Salam aelaykum”: xin chào. Chữ ‘Xalam’ xuất hiện nhiều lần trong sử thi cổ nhất: Akayet Dewa Mưno. Sau đó ‘xalam‘ có mặt trong cả ba Từ điển lớn: Aymonier, Moussay, Đại học.
Tạm nêu vài tang chứng:
Akayet Dewa Mưno, ‘khôy kakuh’ xuất hiện ở câu: 6, 8. Câu-8: ‘Dôm nan get tamư khôy kakuh’.
‘Jabat xalam’ có trong 3 câu: 172, 197, 201. Câu 172: ‘Patao, pô bia, panrong jabol nao rok/ Krưn bijip biak anưk, jabat xulam Dêwa Mưnô’.
‘Talabat’, câu 337: ‘Limư urang twô patri abih drei/ Talabat bloh brei…’.
P.S.
Còn các thao tác “chào”, tôi tìm thấy trong các Rija của Cham. 3 Sử thi Cham vay mượn nhiều từ Sanskrit và Ả Rập. Trong Akayet Um Mưrup, chữ ‘Axulam’ để chỉ tôn giáo Islam. Islam có nghĩa “vâng mệnh, quy phục Thượng đế”.
Còn ‘likau axulam’ có mặt ở 2 câu 61 và 66, mang nghĩa quy phục hoàn toàn. Câu 61: ‘Hơic ula gilaic akok wơk mưrai/ Hajiư dak pô hai halun likau axulam’.

“Nhìn về phía trước, nhìn lại cũng chẳng thấy đâu” Điều này cho thấy cả tương lai lẫn quá khứ…
Panuec mada caik mat di abih nan panuec "ngak". Kayouk panueic ni hu ralo mbang anguei padar dalam ariya: "ngak…
Thật mới mẻ!