Một bạn trẻ sau khi dự buổi thuyết trình tại Sứ quán Thụy Sĩ, đã “theo” tôi lên tận hội thảo ở Đại học Thái Nguyên, để hỏi câu hỏi duy nhất: “Nhà thơ có đề cập người Cham rất ý thức bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, xin hỏi chỉ ý thức thì có đủ không? Và nếu muốn bản tồn bản sắc văn hóa dân tộc hiệu quả, thì phải làm thế nào?”

– Đúng, chỉ có ý thức thôi chưa đủ. Đơn cử, để bản tồn ngôn ngữ dân tộc,

Thứ nhất: ý thức; thứ hai: làm.

[1] Nói. Bạn phải nói tiếng mẹ đẻ trong gia đình và ngoài xã hội.

[2] Dạy. Ngôn ngữ đó phải được dạy trong nhà trường: Cham ngoài dạy tiếng Cham trong các trường tiểu học, họ còn thường xuyên mở các lớp dạy chữ và tiếng Cham đủ dạng kiểu.

[3] Đọc & viết. Cham có tác giả sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ; tác phẩm đó được in trong đặc san của dân tộc mình, là Tagalau.

[4] Cham có tác phẩm nghiên cứu, là các công trình về văn học in song ngữ Cham Việt, có nhiều sách công cụ là từ điển để tra cứu.

Thứ ba: Môi trường và Điều kiện. Hỏi cơ chế có cho phép không, nếu không – ta phải đòi, và đòi cho bằng được. Cuối cùng, ai là trí thức của cộng đồng dám đứng ra làm?

“Thư về chuyện chữ và tiếng”

Ngày 21-12-2008, tôi thư này đến một bạn thân. Trích:

Bạn kêu: “ Nói chuyện bảo tồn chữ và tiếng Cham bằng… tiếng Việt”: đúng! “Làm thơ, viết văn, phê bình tất tần tật tiếng Việt”, càng đúng nữa. Nhưng nếu mình thuần Cham ‘harat’, ai nghe đây? Tại lớp bồi dưỡng tiếng Cham ở Mỹ nghiệp mùa Hè 2001, tôi đã thử, vậy mà chính các giáo viên tiếng Cham tiếp nhận rất khó khăn, huống chi viết. Mà “thông điệp” về tiếng chữ Cham đâu phải gởi riêng cho Cham, phải không?

Cũng vậy, phê bình bằng tiếng Việt, nghiên cứu bằng tiếng Việt… Dù sao đi nữa, Sara đâu phải chỉ bằng tiếng Việt! Thử kể công vui nhé:

Hè 1975, tôi mở khóa dạy chữ Cham cho 70 anh chị em tại Chakleng. Sau đó nhiều lớp khác nữa tại Phan Rang, Sài Gòn… Ít nhất 200 người biết rành chữ mẹ đẻ qua “thầy Sara”. Đó là chuyện chữ thuần túy.

Việc soạn Tự học tiếng Cham (1975), Từ vựng học tiếng Cham (1982) và góp công soạn 3 cuốn từ điển cùng cuốn riêng, cũng thế. Là chuyện vừa chữ lẫn tiếng.

Sưu tầm và dịch ngàn trang thơ cổ Cham: ngoài việc “bảo tồn di sản văn hóa”, ở đây nhấn về tiếng là chính. Trong vụ này, tôi thích nhất cuốn Tục ngữ câu đố Cham. Trường ca hay sử thi… thì dễ thôi. Chúng có sẵn trong ‘ciêt’ sách gia đình, chịu khó đến xin chép rồi nghiên cứu và dịch rồi bỏ tiền ra in rồi mang tặng là xong. Riêng tục ngữ, thành ngữ, ca dao, đồng dao, câu đố mới cực khó. Không phải nó cao siêu mà phải chịu miệt mài từ năm này sang tháng khác, từ giờ này sang giấc khác, làng này đến xã khác. Lắng nghe và ghi chép. Có khi cả tháng không có một câu! Chuyện này vừa đòi hỏi sự nhạy cảm ngôn ngữ đồng thời sức chịu bền ghê gớm.

Bảo tồn ngôn ngữ không phải ở dạy nó trong trường học hay làm luận án về nó, nghiên cứu mang tính hàn lâm về nó mà phải dùng nó hàng ngày. Chuyện này tôi nhất quán ngay từ ngày đầu. Đố ai thấy ông Sara nói độn tiếng Việt? Trong gia đình thì càng. Mấy đứa con cũng vậy. Nó tác động đến mấy cô thợ may của bà Hani nữa…

Cuối cùng nói chuyện thơ ca. Tôi làm thơ tiếng Cham ngay lớp 7 đăng báo tường. Từ đó đến nay, có 200 bài thơ và 3 trường ca. Nghĩa là còn nhiều hơn thơ tiếng Việt nữa. Tôi làm đâu bỏ đó. Đây là điều cá biệt. Tôi thuộc thơ thiên hạ cả vạn bài nhưng không thuộc mình, trong lúc các bạn thơ đọc thơ mình vanh vách.

Hoạt động của tôi nhằm vào phát triển tiếng Cham. Nhớ: Tiếng chứ không phải chữ, nghĩa là NGÔN NGỮ SỐNG.

Nói thêm về thơ. Bài thơ thuở lớp Đệ Lục, tôi còn nhớ vài câu. Năm 1977, thầy Hồng hiệu trưởng cũ của mình dạy nó trong lớp (ông này cũng rất cá biệt, ông bảo thơ hay cần phổ biến cho thiên hạ biết), học trò ông đọc lại tôi mới nhớ:

Riyak pađiak jalan riya trun bblet bblet

Angin ba hajan lipih lek bblêng bblêng

Kei nao nhjôl nhjaic yam takai rineh

Pang xap palei nưgar thong xap hanim.

Pang xap bal nao tapa xap ciim

Ariya buy côh alok padai halim…

Sóng nắng đường quê lên nhịp nhịp

Mưa thưa gió thổi xuống nghiêng nghiêng

Em đi nhẹ nhõm bàn chân trẻ

Nghe tiếng xóm làng với tiếng thiêng

Nghe tiếng mùa đi qua tiếng chim

Thơ vui nở rộ cánh đồng chiêm (đúng hơn là đồng mùa)…

Cũng như phần đầu một trường ca của mình, yut Quảng Đại Thính đọc nó trong cuộc phỏng vấn cho đài HTV về Inrasara (bạn tin tôi không nhớ, đúng!). Rồi bài thơ vào tuổi 18-20, tôi đọc trong hôm tiếp xúc độc giả tại Thư viện Ninh Thuận vào mùa Xuân 1998. Nói chuyện về thơ, một bạn trẻ Cham đề nghị, tôi đã đọc bài này.

CIIM

Ciim đam dhan krưm

Ciim par nau ciim klak jwa gar

Anưk wơy, đih war anưk đih

Klau pluh drei di dhan kal dêh

Ribuk tapa nưgar grong gơp ciim nao

Ciim nao ciim klak dhan bhao

Anưk paran tala talah, palei birau lai tai

Ciim tamư glai

Glai lin tapin ciim war jalan klak…

CHIM

Chim đậu cành tre

Chim bay đi chim chẳng trở về

Ngủ yên con ngủ

Ba mươi con trên cành đếm đủ

Bão qua làng chim rủ nhau đi

Chim đi chim chẳng trở về

Xóm thôn xơ xác cành tre lạnh lùng

Chim vào rừng

Rừng mịt mùng chim quên mất lối…

Vài yut bảo thơ hay lắm, sao Sara không làm thơ như vậy đi?! Vậy đó, hôm nay tôi có cả trăm bài chưa in tập: các bài thơ tuổi đôi mươi. Tạp chí Văn nghệ Ninh Thuận rất khoái chúng, ưa mang chúng ra đăng, lại… từ chối các bài thơ hiện đại của Inrasara!

Nếu cứ làm thơ Cham kiểu “Ciim”, hay làm thơ tiếng Việt kiểu “Tháp nắng”, thì làm sao có bài “Mưlơm Cam”, “Đwa Karun” hay “Sinh chỉ một lần”, “Hành hương về bên kia đêm tối”? Lẽ nào cứ bám vào bản sắc mà giậm chân tại chỗ? Lẽ nào thơ Việt Nam muôn đời tụt hậu với thế giới ngoài kia?

Tại sao tôi chưa in tập thơ tiếng Cham? In ai đọc? Câu hỏi đó cứ trở đi trở lại với mình? Tôi đã vài lần thử ở Tagalau, ở Sinh nhật cây xương rồng, – chưa thấy một vọng âm, dù nó xuất hiện ở dạng chữ Cham Latin, nghĩa là nhấn vào TIÊNG chứ không phải CHỮ. Nhưng không phải vì thế mà mình thôi làm thơ tiếng mẹ đẻ.

Nhà thơ là kẻ canh giữ ngôn ngữ dân tộc. Inrasara đã làm cuộc canh giữ của mình. Qua kể công sơ sơ thấy cũng ngoan cường đấy chứ!