Năm 1044: 5 ngàn, năm 1069: 5 vạn; thêm các số tù binh lẻ hay tướng sĩ Chàm đầu hàng kéo theo bầy đàn thê tử cùng lâu la ra Bắc sống. Dù có bị thổi phồng đến đâu, đó là con số khủng, ở thời đó.
Đầu năm 2006, tôi lên chuyến tàu nhanh ra Bắc. Đây là cuộc “Bắc tiến” đầu tiên trong đời – xúc động kì lạ. Tôi như đi theo dấu chân tổ tiên ngàn năm trước. Đường đèo và dốc thẳm, rừng rú với những lối quẹo quanh co, biển cả dưới kia và đỉnh đá trên này. Tàu xình xịch nuốt nhanh từng mảng tối sáng, từng chặng đường. Khác với tổ tiên tôi, họ đã phải cuốc bộ sau cuộc bại trận, khi thân xác đã rã rời, tâm hồn đã chìm tận đất đen, bỏ lại sau lưng làng mạc, người thân, đi – không biết bao giờ trở về.
Điều kiện giao thông xưa ấy, đường núi chập chùng cheo leo ấy, con số khổng lồ ấy, bao nhiêu sinh linh đã rơi rớt lại dọc đường? Rồi những số đã đến đất Bắc, bao nhiêu người trốn “sở” trở về? Họ có về đến quê mẹ không? Chắc chắn là không rồi? Không ít người dừng chân đất Thanh Hóa, Nghệ An. Họ lấy vợ, cưới chồng sinh con đẻ cháu.
Tàu dừng ở ga trả và đón khách, tôi thấy những đứa trẻ “dáng nâu”, miệng rộng, lông mày dày đậm… khá lạc điệu giữa cộng đồng. Nhưng không!
– Nhiều lắm, – ông khách vừa lên tàu, nói.
Tạ Chí Đại Trường viết trong Tù Binh Chàm…
Trong trận đánh đầu năm 1044, trên chiến trường ở Quảng Nam, quân Lí giết vua Chàm, bắt 5000 tù binh, đến mấy tháng sau, tháng 7 mới vào thành Chà Bàn bắt cung phi mĩ nữ. Lúc về, làm lễ mừng “bầy tôi dâng tù binh hơn 5 nghìn tên…”. Vua “xuống chiếu cho các tù binh đều được nhận người cùng bộ tộc, cho ở từ trấn Vĩnh Khang đến Đăng Châu (nay là Quy Hoá) đặt hương ấp phỏng theo tên gọi cũ của Chiêm Thành.” (huyện Tương Dương, Nghệ An và vùng Yên Báy, Lao Kay ngày nay)…
Thế là năm nghìn tù binh về xứ Lí được tập họp theo bộ tộc, phân bổ trong những khu vực mang tên gọi theo kiểu Chàm.
Ra Thăng Long, tù binh Chàm được cho tìm nhận người anh em bao năm cũ. Và để nguôi nỗi nhớ quê, không ít người mang dừa ra trồng, tạo thành đặc sản Chàm không thể lẫn.
Trong trận chiến 1069, số tù binh bị bắt lại gấp mười lần trước: 5 vạn người.
Chúng ta không quên loại tù binh đặc biệt được sử dụng cho nhu cầu hưởng thụ của vua … Lí Thái Tổ xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá…” Khi Trần Nhật Duật mất (1330), sử kể chuyện ông “thích chơi với người nước ngoài, thường cưỡi voi đến chơi thôn Bà Già có khi ba bốn ngày mới về.” Thôn này hồi Lí Thánh Tông đánh Chiêm Thành, bắt được người Chiêm cho ở đấy, lấy tiếng Chiêm đặt tên là Đa Gia Li, sau gọi sai thành “Bà Già”.
… tù binh Chàm sau Lí không còn được dùng vào việc sản xuất cho nhà nước nữa. Trường hợp Lí quả là duy nhất… vùng phía tây Thăng Long, trọng tâm là đền Lí Phục Man với dân chúng các làng Yên Sở, Đắc Sở thờ cúng ông.
Dấu vết đặc biệt về mặt cảnh quan quanh đền là cả một vùng trồng dừa, “một sản phẩm hiếm hoi ở đồng bằng Bắc Kì… là thứ cây tạo thành nguồn thu lớn của nơi này” khiến cho người Pháp đặt tên là village des Cocotier.
Lưu lại Hà Nội ba ngày, tôi đón xe qua Bắc Ninh, xứ nổi tiếng về dân ca Quan họ. Các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc cho biết, chúng mang đậm giai điệu dân ca Cham. Tại sao, thì người ta đoán do tù binh Cham truyền lại, – không sai. Nhưng thế nào, là điều quan yếu hơn, thì chưa có nhà nào làm cuộc đối sánh đến nơi đến chốn cả.
Huyền thoại thuần chủng-02. TÙ BINH Ở ĐÂU?
… chùa Đinh Xá ở xã Đinh Xá, huyện Kim Bảng… là “làng có chùa Bà Đanh”, một làng có nguồn gốc lịch sử là của tù binh Chàm. Nếu lưu ý thêm rằng các đền tháp của Lí tập trung nhiều ở lưu vực sông Đáy thì các địa điểm tù binh này cũng có thể được chứng minh là của Lí.
Phần an trí phía bắc thì như đã thấy còn dấu vết ngày nay là vùng Thạch Thất, Hoài Đức phía tây Thăng Long và vùng Bắc Ninh, Bắc Giang của Bà Chúa Lẫm. Vị trí sau này tuy thường được ca ngợi là phần cội gốc tinh hoa của người Kinh Việt, nhưng xét trạm Hoài Viễn mà nhà Lí lập ra (1044) để đón sứ thần, nghĩa là một thứ trạm biên giới, đặt trên đất Gia Lâm thì đất bà Chúa Xứ coi kho lúc bấy giờ rõ ràng là ở ngoại biên!
… Vùng thứ ba tập trung tù binh Chàm của Lí được Lê Văn Hưu (1272) xác nhận thêm địa điểm là ở vùng Bắc Ninh… cây Cột đá chùa Giạm còn lại ngày nay ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ mà ta nhìn ra là một mukhalinga mang dáng dấp Việt Hán.
Trai Việt vào Nam chinh chiến chết trận hẳn phải vô số, để lại quê nhà bát ngát vợ góa với cô gái khó kiếm chồng. Tù nhân Cham ra Bắc còn hừng hực nhựa sống và đầy tài năng. Gặp nhau, họ làm gì? Tôi tưởng tượng mênh mông cuộc tình nảy nở, ở đó. Các thợ, thầy xây tháp, các nghệ nhân tạc tượng đó, ban ngày làm việc, đêm về họ hát. Giai điệu nhớ quê buồn thương thê thiết vang đi, chúng tìm được sự đồng cảm của mấy cô gái cô đơn hay thiếu phụ nhớ chồng.
Và họ tìm đến nhau. Thành vợ thành chồng xây dựng gia đình hạnh phúc, có; nửa chừng, lệnh trên ban xuống chuyển tù binh đi xây tháp, đúc tượng ở xứ khác, có. Đi, có khi gấp gáp đến không kịp nói lời từ giã; hoặc lắm lúc số tù binh này được cho hồi hương. Điều gì sẽ xảy đến? Bên cạnh các cặp quyết ở lại tạo lập đời sống, – dân đen đâu cũng vậy thôi, họ nghĩ – Bắc hay Nam, Cham hay Việt, tình yêu vượt ranh giới quốc gia, dân tộc cũng có không ít cuộc chia li đẫm nước mắt.
Chia tay, có thời gian để làm cuộc chia tay, bịn rịn anh nắm bàn tay, em vin tà áo… em xin chàng người ơi người ở đừng về… Chàng về xứ tận trời nam tít mù khơi kia, em làm sao tìm đến? Chàng đi, biết bao giờ em được gặp lại chàng? Chàng đi, chàng có trở lại không? Còn có cơ may trở về với em, với đứa con thơ dại của chúng mình nữa không? Khi mà ở nơi đó chàng có mẹ có cha, hay biết đâu có người vợ trẻ xưa ấy đang ngóng chờ chàng, như em đang chờ. Người ơi người ở đừng về…
Dù chàng đã chỉ trăng chỉ sao hứa, dù em tin tình yêu của chàng dành cho em, nhưng lòng em cứ sao sao ấy… Chàng thì vậy, còn em? Bèo giạt mây trôi, chốn xa xôi anh ơi, em vẫn đợi… Ngậm một tin trông, hai tin đợi, ba bốn tin chờ… sao chẳng thấy đâu…
Con sông, lá rừng, cánh chim trời, cành tre, những nhánh bèo như phận bèo cùng nỗi nhớ thương ấy sao mà giống nhau đến kì lạ. Cả giai điệu kia nữa…
Miền Bắc, suốt Lý Trần Lê, hơn trăm ngàn tù binh Cham không bị “thiến” [của đáng tội], mà được phân bố ở khu vực riêng. Sử gia Tạ Chí Đại Trường cho biết, thế kỉ XIII, Trần Nhật Duật còn cưỡi voi đi thăm các làng Cham và nói tiếng “ngoại quốc” với họ.
Yên Sở, Đắc Sở, Ô Chợ Dừa, làng Chèm… là dấu vết người Cham xung quanh khu vực Thăng Long. Còn vết tích kiến trúc, điêu khắc và khác là vô số kể. Cuối thế kỉ XX, thôn Chàng Sơn, huyện Thạch Thất dân nói tiếng giọng lạ, dấu vết mẫu hệ vẫn còn, đến Nhà nước phải quyết đổi con theo họ cha. “Hiện nay ngay cả các cụ cao niên, nghệ nhân cao tuổi cũng không thể nắm rõ nghề mộc của làng khởi nguồn từ bao giờ, do ai tạo lập vì làng hiện có nhiều ngôi Đình nhưng không Đình nào thờ thần hoàng làng làm nghề thợ mộc.”
Hiện tại, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn Khuất Quang Thụy ở Bắc, nhà thơ Thanh Thảo ở Quảng Ngãi còn nhận mình là Cham. Tạm nêu ba người nổi tiếng, chứ tôi đi khắp, và gặp bạt ngàn người “Việt” nhận mình là Cham.

Xin lỗi, cháu tên gì nhỉ? Sara chưa thấy tiền hiện trong tài khoản. Mong vui!
Chảu chuyển vào đây hé, Karun nhiều! PHÚ TRẠM, Ngân hàng ACB - TP Hồ Chí Minh Chi nhánh Cộng…
Cháu chào nhà thơ. Cháu muốn đóng góp một chút cho thư viện và kênh YouTube vì cháu rất xúc…
Phá vỡ để sáng tạo và minh triết hơn 👍
Karun @Baductoai!