[Tiếng Cham tinh nghĩa]
[1] ĐIT, ĐƠH, ĐAH
Bạn có khi nào suy nghĩ về 3 chữ này chưa? Không cần ‘lang likuk’, mà chỉ là ba từ đơn âm. Hãy xét nó qua hai khía cạnh: hiện thực đang dùng, và cả tính chất ngôn ngữ học.
‘Đit dalam hatai’, ‘Đit đit’ [nhỏ, kín]; ‘Tha drei ikan đơh’ , ‘mong ka đơh’; ‘Klao đah đah’: Cười ha hả, cười mở TO miệng; ‘Prong pabah đah talikong’: To miệng, lớn họng (hỗn láo).
[2] ‘KLEK’ LÀ GÌ?
‘Klek’ là trộm, làm điều lén lút. ‘Klek bbang’: ăn cắp, ăn trộm.
Khác với ‘Klek xawah’: cướp giựt, hay ‘Poh blah’, ‘Poh blah poh mưk’: ăn cướp, “ăn cắp” công khai, táo bạo.
“Hối lộ” Cham có từ ‘palwak’ (do cấu trúc từ ‘pa’: làm cho + ‘lwak’: chui qua, mà ra). “Ăn hối lộ”: ‘bbang palwak’
Ở đây ta bàn về ‘KLEK’.
Bởi ‘Klek’ mang nghĩa “trộm”, “lén lút”, “không chính thức” nên sanh ra nhiều đặc ngữ hàm nghĩa văn hóa. Cham có:
[Atong] ‘klek mưnưg’: [đánh] lén.
‘Klek đôm’: lén nói, nghĩa nhẹ hơn ‘Đôm bilei’: nói xấu sau lưng.
‘Klek li-ua’: lén cày, cày trộm nghĩa là cày không chính thức, cày lấy lệ vài đường theo phong tục trước khi vào mùa cày thực sự.
‘Klek ywak’: lén gặt theo nghĩa tương tự, khác với nghĩa ‘ywak klek’: gặt lén (ăn cắp gặt lúa ruộng người ta).
‘Klek mưta mong’: liếc, nhìn trộm do không dám nhìn thẳng mắt người mình yêu. ‘Nit lô ai klek mưta mong’: Yêu quá anh chỉ [dám] lén nhìn.
‘Klek ôn’: mừng thầm. Ví dụ bạn trẻ Lưu Hoàng Minh Giám làm chương trình Tangin Pan Tangin, hay một Cham nữ còn rất trẻ viết truyện ngắn khá hay, hoặc nữ thi sĩ Cham chuẩn bị in truyện cho thiếu nhi, tôi biết và ‘klek ôn’ mừng thầm trong bụng.
‘Klek likei’, ‘Bbang mưnhum klek’, ‘Khing klek’: là “cưới trộm”. Đặc ngữ này hàm nghĩa độc đáo hơn. Đây là dạng đám cưới không tổ chức chính thức, nên đàng trai chỉ cho vài người đưa chú rể qua nhà đàng gái vào đầu hôm, ở đó lễ lạt rất đơn sơ. Có nguyên do của nó. Như hai đứa ưng nhau, do điều kiện kinh tế khó khắn, hoặc họ hàng không thuận, tạm làm ‘Bbang mưnhum klek’, lỗi phải sẽ làm lễ “thú” sau.
+++
[3] ‘Ô KAN’
Ariya Glang Anak có câu:
‘Adat kayau phun hapak jruh tanan
Ô kan jruh pak bikan, drei tacei wơk ka drei’
Đạo của cây là gốc ở đâu thì rụng nơi ấy
Ví mà rụng nơi khác là chính mình tự hại mình.
‘O kan’ hay ‘ukan’ đặt ở đầu câu có nghĩa là “giá mà”, “ví mà”. Còn với hai câu rất đỗi bình thường này trong sinh hoạt hàng ngày:
‘Taco mưdơh ralao, kayua ông ô êw taco tagôk ô kan!’
Cháu dậy muộn, tại vì ông không kêu cháu dậy…
‘Kau war mưk, kayua hư ô kakei thong kau ô kan!’
Ta quên lấy, do mi không dặn tao…
‘Taco mưdơh ralao, kayua ông ô êw taco tagôk ô kan!’
Cháu dậy muộn, tại vì ông không kêu cháu dậy…
3 phụ từ, hay cụm phụ từ sau đều có thể “điền vào chỗ trống” được, tùy mức độ diễn tả phản ứng của người nói.
Cháu dậy muộn, tại vì ông không kêu cháu dậy mà [mả, mạ] (có luyến láy)
… không kêu cháu dậy chớ bộ, không kêu cháu dậy đó thôi, đấy thôi.
[4] ‘LÔI MEK’
Các “phụ từ” sau “lôi mek” có nghĩa tương tự, khác chăng là ở cấp độ và mức độ biểu hiện của người nói. Dĩ nhiên mỗi địa phương “phát âm” hơi khác nhau. Lôi mek: Thôi đi!
‘Lôi mek ah’: Thôi đi mà!
‘Lôi mek yơ[ơk]’: Thôi đi chớ! (yơ hay yơk, tùy mức độ “trách”)
‘Lôi mek nhưk’: Thôi đi nhé!
‘Lôi mek ngưko[ok]’: Thôi đi cho!
‘Lôi mek ngưkaic’: Thôi đi cho!
Thêm: về ‘poh NGƯK’
Thông tin vui. Hồi Trường Trung học Cham mới chuyển từ An Phước về Pô-Klong 1970, tôi đòi yut Jaya Hamu Tanran dẫn qua nhà cụ Thiên Sanh Cảnh ở thị xã Phan Rang. Ở buối nói chuyện, cụ hỏi:
– Hai đứa biết tiếng Cham có ‘lang likuuk NGƯK’ không?
Cả hai bảo chưa thấy. Cụ khẳng định; có! Rồi đưa ra 3 từ, và ví dụ.
‘Ngưkaic, ngưko, ngư-ah’ [hay ‘nga-ah]
‘Dôm ni [ô] ngưkoh’: Bấy nhiêu thôi mà!
‘Cham [ô] ngưkoh’: Chàm thôi mà!
‘Lôi mek ngưkaic’: Thôi đi cho!
[5] PAKRƯ’ HAY TAKRƯ
‘Pakrư’ là từ hay bị hát trật trong ca từ một dân ca Cham, ngay cả ca sĩ chuyên như Thập Ariya cũng có chỗ nhầm:
“Adei pakrư karah mưta”: Em tặng [cho anh] nhẫn mưta, hát thành
“Adei takrư karah mưta”: Em thích nhẫn mưta…
Trong tiếng Cham, âm chính ‘KRƯ’ có ba tiền trọng âm tạo nên sự khác biệt về ngữ nghĩa. Các bạn cần chú ý:
‘Mưkrư’: đẹp. ‘Thek mong biak mưkrư’: Dáng trông rất đẹp;
‘Takrư’: Thích, muốn. ‘Cong takrư’: Ước vọng, ước muốn;
‘Pakrư’: Tặng; đùa vui. ‘Đôm pakrư klao’: Nói đùa vui. ‘gap pakrư’; vừa phải.
[6] ‘PAKRƯ’, ‘ALIN’ & ‘PA-ÔN’
Hôm qua, hỏi một cụ ông tuổi 70, rằng từ “tặng” làng mình nói thế nào, ông lúng túng thấy rõ.
– Ở đây cũng nói “tặng” như người Việt vậy thôi, – lúc lâu ông nói.
Tôi giải thích: Không phải làm khó nhau, chỉ là hỏi để biết cách dùng từ khác biệt ở các palei Cham, rồi ướm thử:
– Thế bà con ta có nói ‘Pa-ôn jiên ridêh’ không? Ông bảo, có.
– Nó có nghĩa mừng [tặng] tiền [đi] xe đó;
– Còn ‘drap alin’? Cũng có luôn.
– Từ này có nghĩa là “quà tặng”.
– Thế còn ‘pakrư’ mang nghĩa “tặng”, palei mình có hay nói không?
– Chắc không!
Vậy đó, ngôn từ hàng ngày, ta dùng mà không ý thức; hoặc một từ rất thông dụng, ta bỏ quên, cứ sẵn tiếng Việt mà xài, vô tư.
Về “tặng”, “biếu”, “thưởng”, “mừng”, Cham có 3 từ sau:
‘Pakrư’: ngoài hai nghĩa là “đùa vui” trong cụm từ ‘Đôm pakrư klao’: Nói đùa vui, và ‘gap pakrư’; vừa phải, còn có nghĩa “tặng”. Từ này chỉ dùng trong quan hệ nam nữ, như ‘Pakrư karah mưta’: Tặng nhẫn có mắt.
‘Pa-ôn’ “tặng” mang nghĩa quà mừng. Như ‘Pa-ôn jiên ridêh’: Mừng tiền xe [cho người đi xa]; ‘Pa-ôn tapuk birau tabiak’: Tặng [biếu] tác phẩm vừa in.
‘Alin’ được dùng đa dạng hơn cả, “Tặng” ở đây hàm nghĩa thưởng cho thành tích nào đó. ‘Kaya alin’: quà tặng; ‘Alin kaya ka anưk mưtau’: Tặng quà cho cô dâu chú rể; ‘Alin kaya alin ka anưk xêh’: Tặng phần thưởng cho học sinh.

Karun @Baductoai!
Ý hay. Karun!
Từ “Không” : Sinh ra không có của cải gì, chết cũng không mang theo của cải gì
Chú hay quá. Chúc chú luôn mạnh khỏe.
“Nhìn về phía trước, nhìn lại cũng chẳng thấy đâu” Điều này cho thấy cả tương lai lẫn quá khứ…